BỐN MƯƠI LĂM NĂM HOẰNG PHÁP CỦA ĐỨC PHẬT
B́nh Anson (2007, 2025)
Năm đầu tiên (528 TCN)
Sau khi thành đạo vào đêm rằm tháng Vesākha (tức tháng Tư âm lịch),
Đức Phật đến ngụ tại khu vườn nai (Lộc uyển, Migadāya), vùng Chư
thiên đọa xứ (Isipatana) tức Sa-nặc (Sarnath) ngày nay, gần thành
Ba-la-nại (Bārāṇasī, Benares). Tại đó, Ngài giảng bài kinh đầu tiên
– kinh Chuyển Pháp Luân, hóa độ năm anh em đạo sĩ Kiều-trần-như (Kodañña)
và cư sĩ Da-xá (Yasa).
Năm thứ 2-4 (527-525 TCN)
Ngụ tại thành Vương-xá (Rājagaha), kinh đô của xứ Ma-kiệt-đà (Magadhā).
Ngài cảm hóa vua B́nh-sa (Bimbisāra). Vua cúng dường khu rừng Trúc
Lâm (Veluvana), ngoài cửa Bắc của thành Vương-xá, làm nơi trú ngụ
của Đức Phật và chư Tăng. Ngài thường đến núi Linh Thứu (Gijjhakuta)
để giảng đạo.Trong thời gian nầy, Ngài hóa độ Xá-lợi-phất (Sāriputta),
Mục-kiền-liên (Moggallāna), y sĩ Kỳ-bạt (Jīvaka) và trưởng giả
Tu-đạt Cấp Cô Độc (Sudatta Anāthapiṇḍika). Y sĩ Kỳ-bạt cúng dường
khu vườn xoài làm tinh xá, và trưởng giả Cấp Cô Độc cúng dường tinh
xá Kỳ Viên (Jetavana). Ngài trở về thăm phụ vương Tịnh Phạn (Suddhodana),
và nhận hoàng tử La-hầu-la (Rāhula) vào hàng sa-di.
Năm thứ 5 (524 TCN)
Ngụ tại Vệ-xá-li (Vesālī, Tỳ-xá-ly), thủ đô của xứ Licchavī, và tại
thành Vương-xá. Tại thành Vệ-xá-li, Đức Phật cứu độ dân chúng đang
bị nạn hạn hán và bệnh dịch tả hoành hành. Vua Tịnh Phạn qua đời
trong năm này. Đức Phật thành lập giáo đoàn Tỳ-khưu-ni theo lời
thỉnh cầu của bà di mẫu Mahāpajāpatī Gotamī (Kiều-đàm-di).
Năm thứ 6 (523 TCN)
Ngụ tại đồi Maṅkula, thành Kiều-thượng-di (Kosambi), xứ Vaṁsā, Ngài
thu phục và giáo hóa các người ngoại đạo.
Năm thứ 7 (522 TCN)
Theo Chú giải bộ Pháp Tụ và Chú giải kinh Pháp Cú (kệ 181), trong
mùa hạ năm này, Đức Phật trú tại cơi trời Đao-lợi (Tāvatiṁsa). Ngài
dạy Thắng Pháp (Abhidhamma) cho chư thiên và mẫu hậu Ma-da (Mahāmāyā).
Mỗi ngày, Ngài trở về cơi người, tại thành Sankassa, tóm tắt lại cho
tôn giả Xá-lợi-phất để tôn giả khai triển và giảng rộng ra cho hàng
đệ tử.
Năm thứ 8 (521 TCN)
Ngụ tại rừng Bhesakaḷā trong vùng Sumsumāragiri, xứ Vaṁsā, Ngài
giảng pháp cho bộ tộc Bhagga.
Năm thứ 9 (520 TCN)
Ngụ tại thành Kiều-thượng-di (Kosambi). Nhân khi bị bà thứ hậu
Māgandhiyā của vua Udena oán ghét và bêu xấu, Đức Phật dạy tôn giả
A-nan (Ānanda) về hạnh kham nhẫn.
Năm thứ 10 (519 TCN)
Ngụ tại rừng Pārileyyaka gần thành Kiều-thượng-di. Không khuyên giải
được các xung đột và tranh căi giữa hai nhóm tu sĩ, Đức Phật bỏ vào
rừng sống độc cư trong suốt 3 tháng hạ, và hóa độ được một voi chúa
và một chú khỉ. Hai con thú nầy đă giúp đỡ Ngài trong các công việc
hằng ngày.
Năm thứ 11 (518 TCN)
Ngụ tại làng Ekanāḷa (Nāḷa), phía nam thành Vương-xá, xứ Ma-kiệt-đà
(Magadhā), Ngài hóa độ vị điền chủ Bhāradvāja.
Năm thứ 12 (517 TCN)
Ngụ tại Verañjā, phía nam thành Xá-vệ, Đức Phật dạy tôn giả
Xá-lợi-phất rằng Ngài sẽ thiết chế giới luật v́ có hoen ố phát sinh
trong hàng Tăng chúng. Nếu không như thế, Giáo Pháp sẽ không tồn tại
lâu dài.
Năm thứ 13 (516 TCN)
Ngụ tại núi đá Cāliya (Cālikā).
Năm thứ 14 (515 TCN)
Ngụ tại tinh xá Kỳ-viên, thành Xá-vệ (Sāvatthi). Tôn giả La-hầu-la
tṛn 20 tuổi và thọ Cụ túc giới, trở thành một vị Tỳ khưu. Đức Phật
hóa độ bà Tỳ-xá-khư (Visākhā), về sau là vị nữ thí chủ bậc nhất
trong hàng đệ tử cư sĩ.
Năm thứ 15 (514 TCN)
Ngụ tại thành Ca-t́-la-vệ (Kapilavatthu) của bộ tộc Thích-ca. Vua
Thiện Giác (Suppabhuddha), cha của công chúa Da-du-đà-la (Yasodharā),
băng hà.
Năm thứ 16 (513 TCN)
Ngụ tại vùng Āḷavī, phía bắc thành Ba-la-nại. Ngài hàng phục quỷ ăn
thịt người Āḷavaka, sau đó, quỷ xin quy y Tam Bảo và nguyện hộ tŕ
Chánh Pháp.
Năm thứ 17 (512 TCN)
Ngụ tại tinh xá Trúc Lâm, thành Vương-xá.
Năm thứ 18 và 19 (511-510 TCN)
Ngụ tại núi đá Cāliya (Cālikā).
Năm thứ 20 (509 TCN)
Ngụ tại tinh xá Trúc Lâm, thành Vương-xá. Vào một buổi sáng, trên
đường đi khất thực, Ngài hóa độ tướng cướp Vô Năo (Aṅgulimāla). Đức
Phật bị ngoại đạo vu cáo là đă mưu sát bà Sundarī.
Năm thứ 21 (508 TCN)
Ngụ tại tinh xá Trúc Lâm, thành Vương-xá. Tôn giả A-nan chính thức
nhận lời làm thị giả hầu cận Đức Phật.
Năm thứ 22-44 (507-485 TCN)
Trong thời gian 23 năm này, Đức Phật thường ngụ tại tinh xá Kỳ-viên
(Jetavana). Ngài cũng đến ngụ tại tinh xá Đông viên (Pubbārāma),
phía đông thành Xá-vệ, do bà Tỳ-xá-khư cúng dường. Hai vị đại trưởng
lăo Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên lần lượt tịch diệt vào năm 485 TCN.
Năm thứ 45 (484 TCN)
Ngụ tại làng Beluva, phía nam thành Vệ-xá-li, Ngài trải qua một cơn
bệnh nặng. Sau khi b́nh phục, vào buổi trưa ngày rằm tháng Magha (tháng
Giêng âm lịch), tại điện thờ Cāpāla, Ngài tuyên bố sẽ nhập diệt sau
3 tháng. Đức Phật tiếp tục du hành qua các làng khác và nhập diệt
tại làng Câu-thi-na (Kusinārā) của bộ tộc Mallā, vào đêm trăng rằm
tháng Vesākha (tương đương với tháng Tư âm lịch).
*
Trong bản đồ kèm theo, Bhikkhu Ānandajoti ghi những địa điểm mà Đức
Phật đă nhập an cư trong 45 năm hoằng pháp, ngoại trừ rừng
Bhesakalāvana trong mùa hạ thứ 8 và núi Cāliya (Cālikā) trong mùa hạ
thứ 13, 18 và 19 mà Sư không t́m được thông tin để xác định vị trí
nơi chốn.

* Ghi chú:
1) TCN: Trước Công Nguyên (Tây Lịch)
2) Tham khảo:
- Đức Phật và Phật Pháp (The Buddha and his Teachings), Ḥa thượng
Narada, Phạm Kim Khánh dịch Việt, 1970.
- Đức Phật Lịch sử (The Historical Buddha), H.W. Schumann, Trần
Phương Lan dịch Việt, 1997.
- Tuần báo Giác Ngộ, số 67, ngày 12-07-1997.
- Chú giải Lịch sử chư Phật (Buddhavaṁsa Atthakathā), Tỳ-khưu Siêu
Minh dịch Việt, 2007.
- The Realised One’s Rains Retreats (Tathāgatassa Vassā), Bhikkhu
Ānandajoti, 2024.
https://ancient-buddhist-texts.net/Maps/During-Buddhas-Time/Map-08-Vassa.htm
Trang Sử
Liệu