TRĂNG TRÊN ĐỒI
MANDALAY
Hồ Đắc
Túc
Nắng chiều
vừa sụp tắt lúc tôi đặt chân đến chân đồi Mandalay huyễn hoặc. Trăng
mùng 8 lên cao trên bầu trời trong vắt. Những bậc thềm có mái che, từ
dưới nh́n lên dốc ngược không biết sẽ chấm dứt chỗ nào v́ chút ánh sáng
vàng lu lu đâu đó hắt ra không đủ soi sáng lối đi. Phía sau tôi ánh đèn
đường ngoài cổng hắt ngược, dọi cái bóng gẫy gập lên mấy bậc thềm như
một h́nh thù ma quái quờ quạng ngả nghiêng trèo lên đồi.
Tôi đă tới
đồi Mandalay!
Tôi đă đến
đây sau nhiều năm tưởng tượng về ngọn đồi nằm ở miền trung Miến Điện.
Ngọn đồi Đức
Phật đă đặt chân đến. Ngọn đồi ghi dấu một khoảng thời cực thịnh của
Phật giáo Miến Điện khi vua Mindon dời đô về Mandalay vào giữa thế kỷ
XIX. Trong các nỗ lực chấn hưng Phật giáo của ông, nổi bật nhất là công
tŕnh khắc toàn bộ kinh điển Phật giáo lên các phiến đá quư trong một
khoảng đất rộng dưới chân đổi, ông xây cất nhiều tu viện lớn, nhưng công
việc chưa thập toàn viên măn th́ vua mất. Khi mất, ông không để lại lâu
đài lăng tẩm đồ sộ, ngoại trừ toàn bộ kinh sách khắc lên bia đá.
Một thời gian
sau, khoảng đầu thế kỷ XX, bỗng có một nhà khổ hạnh xuất hiện trên đồi
Mandalay, lúc đó đă hoang phế dưới sự đô hộ của người Anh, đă thành sào
huyệt của bọn cướp. Nhà khổ hạnh ngồi tham thiền trên đồi không biết bao
nhiều ngày tháng cho đến lúc người ta đồn đăi có bậc chân tu trên đồi
hoang. Tín đồ tấp nập càng lúc càng đông, rồi từ hai bàn tay trắng, nhà
khổ hạnh trên đồi Mandalay - nhờ bá tánh cúng dường - đă có thể tiếp tục
công việc trùng tu và truyền bá đạo Phật, tiếp tục công việc dang dở của
vua Mindon thế kỷ trước.
Nhà khổ hạnh
chính là vua Mindon tái sinh.
Bậc đế vương
và nhà khổ hạnh giống như hai kiếp người với cuộc sống đối lập, nhưng
trong mắt của nhà tu nhất tâm phụng sự, th́ đế vương hay khổ hạnh đều là
phương tiện để thực hiện một mục tiêu. Vua Mindon "chọn" làm vua để có
phương tiện truyền bá lời Phật. Thực vậy, ông không có uy quyền và không
tham quyền uy, hầu như quyền cai trị nằm trong tay hoàng thân quốc thích.
Dường như ông muốn được để yên để chăm lo đạo Phật. Quả là ông đă chọn
làm vua để có phương tiện, khi thời thế hết, thực dân Anh xâm chiếm đất
nước, th́ ông lại chọn phương tiện làm nhà khổ hạnh. Và trong cả hai
phương tiện ấy, vai tṛ nào ông làm cũng tốt.
Tôi biết được
câu chuyện trên một phần nhờ dịch cuốn The Way of the White Clouds của
đại sư Anagarika Govinda người Đức, trong đó có chương "Trưởng lăo Kham
Nhẫn, nhà Tiên tri trên Đồi Mandalay". C̣n những mẩu chuyện khác về vua
Mindon là nhờ hỏi thăm những người Miến Điện sống ở Mandalay.
Tôi vừa leo
lên đồi vừa miên man h́nh ảnh nhà khổ hạnh lang thang đă ở nơi đây gần
một thế kỷ trước. Chung quanh tôi bóng tối phủ dày. Mái che trên những
bậc thềm cao hun hút không cho ánh trăng rọi tới nên bóng tối như sậm
hơn. Các bậc thềm được xây cách quăng để nghỉ mệt, hai bên có băng ghế
đá dài bằng chiều dài của những bậc thềm. Đôi chân tưởng như rớt ra
ngoài nhưng tôi cứ leo không nghỉ, mồ hôi ướt như dưới trời hè. Tôi đă
chờ đợi cái ngày đặt chân lên ngọn đồi huyền thoại, và giờ đây đi như đi
trong một giấc mộng dài tỉnh táo.
Những ngồi
nhà tồi tàn ẩn dưới lùm cây hai bên thềm có những đôi mắt ṭ ṃ nh́n ra
dưới ánh đèn vàng nhợt nhạt. Tiếng chim đâu đó rúc lên thi thoảng. Cứ
leo vài chục bậc thang th́ có một khu nhà nghỉ, hai bên đều có tôn trí
tượng Phật, nhưng ánh đèn vàng từ mấy căn nhà men theo thềm cấp không đủ
soi sáng tượng, chỉ thấy lờ mờ đường nét một vị đang ngồi xếp bành. Tôi
vừa lạy trong bóng đêm vừa nghỉ mệt, hơi thở đứt quăng. Đi chừng vài
chục bậc cấp nữa th́ tới một khoảng nhà nghỉ rất rộng, ngay giữa gian có
một bóng đèn vàng rọi lên tượng Phật Thích Ca đứng, pho tượng thật vĩ
đại, đứng thẳng người cũng chỉ ngang khoảng đầu gối của pho tượng. Tôi
phủ phục xuống vừa lạy vừa để nghỉ mệt một lúc lâu. Khi đứng lên th́
giựt ḿnh thấy có một người đàn ông đứng bên cạnh, cười hiền lành. Ông
ta nói ǵ đó, khi thấy tôi không hiểu liền hỏi bằng tiếng Anh.
- Anh ở đâu
đến?
- Việt Nam.
Người đàn ông
cười im lặng, cổ ông choàng tràng hạt, bận quần tây chứ không quấn xà
rông như các đàn ông Miến Điện khác. Ông nói ở ngay căn nhà tre bên cạnh
lâu rồi, rồi chỉ bức tượng nói ǵ đó mà tôi đoán là ông ta muốn giải
thích đây là Phật ǵ. Tôi nói Thích Ca Mâu Ni? Ông gật gật đầu tủm tỉm,
đến ngồi một bên chân tượng, chỉ tay ra dấu cho tôi hăy ngồi ngay trước
tượng Phật, bên cạnh ông. Rồi ông bắt đầu tụng kinh lầm rầm. Tôi đọc bài
Tâm kinh ngắn mặc kệ ông đọc bằng tiếng Miến. Cũng lạ, không hiểu ông
đọc kinh ǵ mà hai thứ tiếng như ḥa lẫn nhau trong tiếng lá cây x́ xào
quanh đồi. Tôi đứng lên rẽ qua hướng trái tính leo tiếp th́ ông chợt lên
tiếng:
"Anh đi phía
bên phải này mới tới đỉnh đồi, mất khoảng hăm lăm phút nữa."
Tôi đi tiếp
khoảng dăm mươi bậc th́ đến một nhà nghỉ chân ở một ngă ba có hai đường
lên đồi, nhà nghỉ này cũng có tôn trí một tượng Phật nhỏ ngay ở giữa.
Tôi rẽ trái, lúc này ánh sáng đă khá hơn, hai bên có vài ngôi nhà tre
nhỏ bán nước và bánh trái, những người Miến ngồi yên lặng không mời mọc
ǵ cả. Tôi cứ leo lên, leo lên nữa, mồ hôi ướt đẫm. Trong một cuốn sách
hướng dẫn du lịch có chỉ dẫn nên thuê dân địa phương gánh lên đồi hoặc
thuê xe chạy men theo sườn ḷng ṿng cũng lên tới, th́ ra là v́ cao như
vậy. Tôi đi một chập nữa th́ thấy đằng trước có một ngôi chùa khá lớn,
ánh sáng vàng hắt ra d́u dịu. Trong chính điện, một pho tượng Thích Ca
đứng thẳng thật vĩ đại, c̣n lớn hơn tượng vừa rồi, cánh tay phải chỉ
thẳng ra đằng trước, tay trái để xuôi theo ḿnh nắm chéo vạt áo. Bên
phải Phật là đệ tử A Nan ngồi xếp nghiêng chân phải xuôi theo chân trái,
chắp tay hướng về Phật nhưng đầu quay theo hướng bàn tay chỉ thẳng của
Phật. Đôi mắt A Nan thật sống động, trong vắt dù dưới ánh đèn vàng. Đây
là chùa Shweyattaw do vua Mindon xây. Tương truyền Phật Thích Ca và A
Nan đă tới chỗ này. Vào năm 1857, vua Mindon dời đô về Mandalay, cho xây
một hoàng thành vuông mỗi bề rộng chừng hai cây số ngay dưới chân đồi,
vua cho tôn trí hai tôn tượng Thích Ca và A Nan.
Tôi ngồi dưới
chân tượng không biết bao lâu, ḷng đầy cảm xúc. Phật đă dừng chân nơi
đây trong chặng đường hoằng pháp, lúc đó ở đây ra sao? Chắc chắn không
có những bậc thềm, nhà nghỉ chân, xung quanh rừng rậm, thú dữ, một ngày
nắng khô hay mưa băo, hay một buổi chiều vàng ngồi trên đồi ngắm mặt
trời lặn xuống chân núi bên kia ḍng sông Voi tha thiết miên man xuôi về
Nam. Hai thầy tṛ ăn ǵ, mà hẳn hai thầy tṛ không đến đây vào tháng Sáu
ta như bây giờ v́ là mùa an cư.
Tôi nghĩ ngợi
miên man như thế nhưng tai vẫn nghe tiếng lá cây bên ngoài x́ xào thật
mạnh, những chiếc lá không phải cọ mà đập lên nhau, gió nổi lên cuồn
cuộn từng chập, rồi lại ngừng, rồi lại nổi lên như nói cười hí hửng, lẫn
trong tiếng lá vang lên âm điệu linh kinh thanh thoát của các quả chuông
nhỏ làm nên bản đồng ca hoang dă.
Mấy ngàn năm
c̣n sót lại. Có phải vậy chăng?
Có phải phạm
âm là tiếng trong ḷng cùng nhạc của trời đất. Ánh trăng là phông màn.
Gió là nền nhạc. Chuông là tỉnh thức. Ánh đèn là sao băng rọi xuống
triền núi lẻ loi.
Có vài đứa
trẻ từ đâu đó chạy ra. Trăng càng khuya càng sáng. Chỉ vài giờ từ khi
rời phi trường về thành phố, trời đầy mây tưởng như sắp mưa. Bây giờ mây
đi đâu hết, chỉ có một mảnh trăng khuyết treo trên đỉnh những ngọn tháp.
Trong cuốn The Way of the White Clouds có chương nói về tri kiến của "Người
Thầy". Người Thầy mà đại sư Govinda mô tả là bổn sư của ông nhưng h́nh
ảnh giống như nhà khổ hạnh trên đồi Mandalay. Govinda bắt đầu chương này
với bốn câu thơ của Thiền sư Nhất Biến (trong Cao tăng truyện):
Thiên phong
đảnh thượng nhất gian ốc
Lăo tăng bán
gian vân bán gian
Tạc dạ vân
tùng phong vũ khứ
Đáo đầu bất
tợ lăo tăng nhàn
(Trên đồi gió
lộng một am già
Nửa căn mây ở
nửa căn ta
Đêm qua tơi
bời mưa gió
Mây tan tác
chỉ c̣n lăo tăng)
H́nh ảnh gió
thổi mây tan thật đúng trong lúc này.
Không có mây
trên đồi Mandalay.
Chỉ có trăng
một ḿnh.
Tiếng gió
tiếng chuông.
Ngọn đồi cô
độc.
Nh́n xuống,
hoàng thành Mandalay hiu hắt trong ánh đèn vàng đây đó hắt hiu.
Bên ngoài
hoàng thành là thành phố Mandalay nhàn nhạt vài ánh đèn trắng chứ không
rực sáng như nhiều thành phố khác. Gió rít lên từng hồi, không thấy lá
nhưng tiếng lá đụng vào nhau nghe như sóng biển dạt dào từng hồi giữa
đêm khuya. Một vài tiếng chim "quác" lên càng tăng thêm vẻ cô tịch.
Tôi lại leo
tiếp, sức lực như đă khôi phục hoàn toàn nhưng chỉ hăng hái vài chục bậc
cấp th́ tưởng như đi không nổi. Lần này các bậc thềm như dốc hơn, lối đi
hai ba ngă túa ra nhưng cứ theo mái che mà tiến, h́nh như bên ngoài có
nhiều chỗ sân rộng, có tiếng người th́ thầm đâu đó. Tôi đi qua hai, ba
khu nhà nghỉ, chỗ nào cũng có tháp hoặc các pho tượng mô tả sinh - lăo -
bệnh - tử thật ghê sợ, người bệnh gầy xương, người già th́ gánh thời
gian đè lên tay chống gậy, người mẹ sinh con khó nhọc, người chết mặt
ủng da ch́ quạ bu trên xác, và riêng người chết th́ trên đầu nằm mới có
tượng một nhà sư. Dường như người chết có vẻ ǵ hối hận v́ tu quá trễ,
khi c̣n trai trẻ, khi c̣n minh mẫn, mắt sáng tai nghe lại lo toan những
điều ǵ đấy để cuối cùng xác thân tan rữa làm mồi cho bầy quạ đen kinh
khủng. Tôi lầm lũi leo miệt mài như thế trong tiếng lá xạc xào miên man,
ánh trăng d́u dịu rọi trên những bóng tháp trầm ngâm, rọi nghiêng chân
đồi huyền ảo, cho đến khi tưởng sắp ngất đi th́ đằng trước, trên cao
chót vót, một màu sáng trắng chói ḷa soi rực một cung điện với những
hàng cột vuông lấp lánh màu xanh ngọc bích hiện ra.
Tôi đă tới
đỉnh đồi!
Trên một
khoảng đất bằng phẳng rộng răi, những hàng cột vuông xanh ngọc chống đỡ
các lớp mái che h́nh ṿm nối nhau quanh một điện Phật vuông vắn, ở bốn
mặt đều tôn trí tượng Phật ngồi, tay trái để ngang đùi, bàn tay phải
đụng mặt đất chứng minh sự thành đạo, ánh đèn màu lấp lánh linh động soi
đôi mắt Phật buồn buồn (mấy hôm sau đi các chùa khác tôi đều thấy đôi
mắt và cả khuôn mặt của Phật Miến Điện thường buồn, không mỉm cười "niêm
hoa vi tiếu" như các tôn tượng trong các thiền viện ở Việt Nam). Xung
quanh tháp thờ vuông vức là bốn dăy hành lang rộng, mở toang bầu trời
bát ngát và nh́n xuống cả một cổ thành Mandalay bằng phẳng. Trên bờ
tường người ta dựng những cột tháp cao cách quăng gắn nhiều chuông nhỏ,
gió thổi qua và không gian tịch mịch vui lên với tiếng chuông leng keng
thanh thoát. Đứng ở mép tường nh́n lên, trăng khuyết thật gần, phả ánh
sáng mờ dịu lên những đỉnh tháp vàng tươi, những đỉnh tháp đen đen lầm
lầm, và xa dưới kia, cổ thành ch́m trong một màu sáng lung linh mờ ảo.
Tôi ngồi thật
lâu trước các tượng Phật Thích Ca, thỉnh thoảng có vài người vào lễ thật
kính cẩn. Không thấy một tu sĩ bận áo tu nào nhưng không gian như tràn
ngập lời Phật trong tiếng chuông dạt dào, như hiện những dấu chân Phật
một thời trên đất lành thơm ươm mùi quá văng.
Tôi đă tới
đỉnh đồi Mandalay! Dù nơi đây giờ đă thành một địa chỉ du lịch, đă có
hàng quán lảng vảng ăn theo, đă mất nhiều không khí thiền vị của Phật
môn, đă mất cái hương vị của im lặng khủng khiếp với những chiếc áo cà
sa lặng lẽ vô ngôn, nhưng hề ǵ, v́ mỗi dấu đất tôi đang đi trên đều có
chân Phật đi qua, mỗi cơn gió thổi qua nơi đây cũng là ngọn gió đă thổi
bay bay màu áo hoại sắc của Phật, mỗi âm thanh của lá cũng là tiếng lời
của lá hơn hai ngàn năm trước. Sự thiêng liêng có hay không tùy nơi ḿnh
quán nghĩ. Cho nên mỗi lần dập đầu xuống kính lễ tôn tượng, tôi như nghe
như từ ḷng đất một chấn động rền rền uy lực của vô số Bồ Tát Tùng Địa
dũng xuất chứng giám sự bất diệt từ nguyên sơ chí tận vị lai duy một con
đường.
Tôi đi lần
xuống đồi, không biết may hay rủi mà đúng lúc ấy mây đen che kín trăng
non, lần ṃ những khúc nhiều lối đi ngang dọc nên lạc lên lạc xuống.
Trời đă khuya. Khi tới ngang chỗ tượng Phật đứng đầu tiên, vẫn c̣n thấy
người đàn ông ngồi tụng kinh th́ thầm. Ánh sáng từ tượng Phật màu vàng
hắt lên cả con người nhỏ bé của ông một vẻ thâm trầm, cô độc. Không có
tiếng chuông và mơ, chỉ có tiếng lá reo cao trên nền lời nguyện trầm
ngâm. Tôi kính cẩn vái chào phía sau lưng ông thay cái bắt tay với một
người đồng hành quen thuộc.
Cập nhật 2026
Vi tính: Trà My