|
|
HƯỚNG DẪN HÀNH HƯƠNG VỀ XỨ PHẬT
MỤC LỤC
Lời
Tựa
Lời
Tựa
Bổ Sung
(Lần
tái bản
thứ
ba
2011)
Về
Tác
Giả.
Lời
Nguời
Dịch
Ư
Nghĩa
Của
Việc Hành
Hương
Phần I – Bốn Thánh
Địa Thiêng Liêng (Tứ Động
Tâm)
1.
Lumbini,
Nơi
Đức Phật
Đản
Sinh.
2.
Bodhgaya
(Bồ-Đề
Đạo-Tràng), Nơi Đức
Phật
Giác
Ngộ
3.
Sarnath (Vườn Nai),
Nơi Đức Phật Khai Giảng Bài
Thuyết
Pháp
Đầu
Tiên
4.
Kusinara (Câu-Thi-Na), Nơi
Đức
Phật Đại
Bát-Niết-Bàn
Phần
II
– Bốn
Nơi
Xảy Ra
Điều
Thần
Diệu.
1.
Savatthi (Thành Xá
Vệ),
Nơi Xảy
Ra
Hai Điều
Thần
Diệu.
2.
Sankasia,
Nơi
Đức Phật
Hạ
Thế Từ
Cơi
Trời
Đao
Lợi
3.
Rajgir,
Nơi
Đức Phật
Thuần
Phục
Con
Voi Say
Nalagiri
4.
Vesali
(Tỳ-Xá-Ly),
Nơi
Bầy Khỉ
Dâng
Cúng
Mật
Ong Cho
Phật
4.5.1. (a)
Sự
Truyền
Bá
Của Phật
Giáo
Ra
Ngoài Ấn
Độ
4.5.2.
(a) Những Tượng Phật & Nghệ Thuật Điêu Khắc Phật
Giáo ở Ấn Độ
5.
Sự
Lưu
Lạc Của
B́nh
Bát Của
Đức
Phật
Phần III – Những
Tháp Tưởng Niệm Đáng Ghi Nhớ Khác
Dọc
Theo Đường
Hành
Hương
1.
Sự Ra Đời
&
Phát Triển
Của
Những Tháp
Tưởng
Niệm
Stupa:
Đối
Tượng Để
Tôn
Kính
2.
Pava,
Nơi
Đức Phật
Thọ
Thực Bữa
Ăn
Cuối
Cùng.
3.
Kesariya, Di Tích Tháp
Tưởng Niệm Stupa Cao Nhất Thế
Giới
4.
Tháp
Tưởng
Niệm
Ananda
Stupa ở
Hajipur
5.
Kosambi, Di Tích Nơi
Xảy Ra Cuộc Tranh Biện & Phân
Ly
Trong Tăng
Đoàn
Sangha
6.
Chỉ Dụ Được Khắc Lên Đá
Của Vua Asoka (Thạch Pháp
Dụ)
7.
Đại
Bảo
Tháp Stupa
ở
Sanchi
1.
Những
Nhà
Hành Hương
Lỗi
Lạc Trong
Quá
Khứ.
2.
Kư
Sự
Phật Quốc
Của
Ngài Pháp
Hiển
(Fa
Hsien)
3.
Kư
Sự
Tây Vực
Của
Ngài
Huyền
Trang
(Hsüan
Tsang)
4.
Sự
Tàn
Phá &
Suy
Vong Của
Phật
Giáo
ở Ấn
Độ
5.
Sự
Khôi
Phục Những
Di
Tích Phật
Giáo
ở
Ấn
Độ
6.
Cuộc
Phục
Hưng
Phật
Giáo
ở
Ấn
Độ
7.
Sayadaw U Chandramani
ở Kushinagar: người Anh Hùng Phật Pháp ở Ấn Độ
8.
Tiến Sĩ Babasaheb
Ambedkar: Người Lănh Tụ Của Giai Cấp Hạ Tiện Ấn Độ
Phần V – Hành
Tŕnh Đi Đến Tám Thánh Địa Quan
Trọng
1.
Hành
Tŕnh
Đến
Những Nơi
Hành
Hương ở
Ấn
Độ.
2.
Việc
Bố
Thí, Cúng
Dường
Cho
Tăng
Ni
3.
Thông Tin Hướng Dẫn
& Những Lời Khuyên Khi Đi
Hành Hương ở
Ấn
Độ
4.
Khoảng
Cách
Đi
Đường
Giữa
Những Nơi
Hành
Hương
5.
Bản Đồ Chỉ
Vị Trí Địa Lư Của Những Nơi Hành Hương ở Ấn Độ
6.
Những Nhóm
Hành Hương Từ Năm 1991-2011 & Gợi Ư Lịch Tŕnh Thiết
Thực Nhất
7.
Lịch tŕnh chuyến Hành Hương Ân Độ 13
ngày (16/11- 28/11/2013)
có
tác giả
&
người
dịch.
8.
Thư
Mục
Sách &
Tài
Liệu Tham
Khảo.
Phần Cuối – Phụ
trang H́nh Ảnh & Các Di Tích Hành Hương
1.
H́nh
Ảnh
Bốn
Nhà
Tiên Phong
Trong
Cuộc
Phục
Hưng
Phật
Giáo
ở
Ấn Độ.
2.
Bản
Đồ
cuộc
hành
tŕnh
Tây
Du của Huyền
Trang.
3.
Bản Đồ
Chỉ Vị Trí Địa Lư Của Những Nơi Hành
Hương ở Ấn
Độ
4.
H́nh
Ảnh
Các
Phật
Tích,
Di
Tích.
|
Ư tưởng về một cuộc hành hương về xứ Phật là
do chính Đức Phật nói ra. Trước khi Người nhập diệt Đại
Bát-Niết- bàn, Phật đă khuyên những đệ tử kính đạo nên viếng
thăm, chiêm bái bốn nơi để được tăng thêm sự truyền cảm về
tâm linh của ḿnh sau khi Người từ giă trần gian. Những nơi
đó là Lumbini, nơi
Đức Phật đản sinh; Bodhagaya (Bồ Đề Đạo Tràng), nơi Đức Phật
chứng đạt Giác Ngộ Tối Thượng;
Vườn Nai ở Sarnath, nơi Đức Phật khai giảng bài
Thuyết Pháp đầu tiên – Kinh Chuyển Pháp Luân; và Kusinara
(Câu Thi Na), nơi Người nhập diệt Đại Bát-Niết-bàn.
Một Phật tử kính đạo nên thăm viếng những
nơi này và tôn nghiêm với
một ḷng
thành kính,
chiêm
nghiệm lại những
sự kiện đặc biệt xảy ra trong cuộc đời của Đức Phật liên
quan đến từng địa danh đó. Từ sau Đại Bát-Niết-bàn
của Đức
Phật, bốn
nơi thiêng
liêng của
Phật Giáo
này đă trở
thành những
tâm điểm
cho những
người con
Phật mộ đạo
hành hương về với t́nh cảm tâm linh. Vào thời Vua A- dục
(Asoka), có thêm bốn địa danh nữa được đưa vào danh sách
những nơi hành hương, đó là: Savatthi (thành Xá-Vệ),
Sankasia, Rajagaha (thành Vương Xá) và Vesali (Tỳ-xá-ly),
những nơi này rất gắn liền với cuộc đời của Phật và những
cảnh thần
diệu đă
diễn ra
trong lịch
sử vào lúc
Đức Phật c̣n tại thế. V́ vậy, tổng cộng có 8 Thánh
Địa Quan Trọng trong lịch tŕnh hành hương trên đất
Phật.
Mục đích của quyển sách này là chia sẻ với
quư Phật tử và
những đạo hữu những kinh nghiệm và kiến thức thu góp được
của tôi về những lợi ích trong việc thực hiện một
chuyến hành
hương chiêm
bái Tám
Thánh Địa
thiêng
liêng
với ḷng thành và thái độ tinh thần
đúng mực. Theo Phật Giáo, việc thực hiện một chuyến hành
hương đóng một vai tṛ quan trọng cho những tiến bộ về mặt tâm linh của mỗi người.
V́ vậy,
đối với
một người
đang có
ư định
hành hương, điều cốt lơi cần phải hiểu rơ là cuộc
hành hương là một chuyến đi tâm linh với ḷng thành kính
hướng về Đức Thế
Tôn. Ḷng thành kính này sẽ làm trong sạch và thanh
tịnh những suy nghĩ, lời nói và hành vi của mỗi người
và thông qua đó, nhiều phẩm hạnh cao đẹp sẽ được phát triển
trong tâm ḿnh.
PHẦN ĐẦU nói
về ư nghĩa của phương diện tinh thần
một số khía cạnh của tâm của một cuộc hành hương.
Phần này trước đây nằm trong Phần IV của quyển sách. Phần IV
được tách ra sau để quư độc giả dễ dàng đọc lại và tra cứu
thông tin về các di tích hành hương khi đang đi hành hương.
Phần
I
&
II
là hai
phần
chính của
quyển sách,
giới thiệu lại lịch sử và những ư nghĩa tôn giáo của
từng thánh tích
trong Tám Thánh Địa Quan Trọng và những nơi thuộc những
thánh địa đó cần được viếng thăm, và những chi tiết thú vị
của từng nơi có thể t́m thấy ở đây.
Phần III mô tả
những đền tháp quan trọng khác, bên ngoài Tám thánh địa đă
nói, mà trên đường đi hành hương chúng ta có
thể ghé
lại thăm
viếng nếu
có được
thêm ít
nhiều thời gian ngoài chương tŕnh. Một ví dụ như ở
Sanchi. Mặc dù bản thân Đức Phật đă không đến Sanchi,
nhưng địa danh này đă trở thành một trung tâm Phật giáo quan
trọng, bởi v́ những di tích và xá lợi của những vị Đại Đệ Tử
và những A-la-hán đă được phát hiện ở nơi này. Đó là những
người tổ
chức Hội
Đồng Kết
tập Kinh
Điển Phật
giáo
lần
thứ Ba và sau đó đă đảm nhiệm những
sứ mạng ra đi truyền bá Phật Pháp ra ngoài biên giới Ấn Độ.
Đó là một trong những điều may mắn kỳ diệu
để Phật Pháp vẫn c̣n được giữ nguyên vẹn sau khi Ấn Độ và
nền Phật giáo Ấn Độ bị tàn phá đến diệt vong bởi những người
Hồi giáo vào thế kỷ 12. Sự thật, Ngài Mahinda, con của vua
Asoka, người đă thiết lập nên Phật Pháp (Buddha Sasana) ở
Tích Lan
đă ở
lại 1
tháng tại
1 tu
viện do
người mẹ
của ḿnh
xây dựng
ở Sanchi
trước khi
lên đường
xuất dương
qua Tích Lan để thực hiện Sứ mạng truyền Pháp cao cả của
ḿnh. Một công hạnh mà thế giới Phật Tử sẽ không bao giờ
quên.
Hội
Đồng Kết
tập Kinh
Điển lần
thứ Ba
được tổ
chức vào khoảng năm
250 trước CN ở Pataliputta (Patna, Hoa
Thị Thành) do HT. Moggaliputta Tissa (Mục-Kiền-Liên
Tử Đế Tu) chủ tŕ
và sau đó đă gửi những giáo đoàn truyền bá Phật
Pháp đi
nhiều
phương khác
nhau ở
Ấn Độ,
và Tích
Lan, Miến Điện. Nhờ vào tầm nh́n xa và trí tuệ của Ngài
HT. Moggaliputta Tissa, đến khi Phật giáo Ấn Độ bị
diệt vong bởi những đạo quân Hồi giáo cuồng tín vào thế kỷ 12, th́ ánh
sang Phật Pháp vẫn chiếu ngời ở Tích Lan, Miến Điện và
những nước
Phật giáo
nguyên thủy
đến tận
hôm nay.
Ngày nay, chúng ta đă và đang chứng kiến
những tu sĩ từ những nước Phật giáo lại quay về Ấn độ để làm
sống lại nền Phật giáo tại chính cái nôi của Phật Pháp
sasana!. Những người hành hương cũng nên dừng lại Patna
để ghé thăm vườn
Kumhra Park, nơi được tin là di tích của Asokarama, một đại
tịnh xá do vua Asoka xây dựng, là nơi diễn ra Hội đồng Kết
tập Kinh Điển lần thứ Ba.
Phần I trong
lần xuất bản trước, nay được dời ra thành Phần IV của
quyển sách này. Mục đích là dành cho độc giả và những người
hành hương có thể t́m nhanh đến các trang nói về các di tích
trong các Phần I, II & III, để dễ dàng tra cứu thông tin
trước khi hay ngay khi đang viếng thăm một di tích nào đó!.
Phần IV giới
thiệu về những con người gắn liền với lịch sử thăng trầm của
nền Phật giáo và những Phật tích ở quê hương của Phật trong
mấy ngàn năm qua. (a) Một quyển
sách hướng
dẫn về hành hương sẽ thật sự là thiếu sót nếu không nhắc lại
những nhà hành hương lỗi lạc ngày xưa, như là: Vua A-dục
(Asoka), những nhà chiêm bái Trung Hoa. Ḷng thành tín và sự
chịu đựng gian khổ kiên cường của các ngài là những niềm cảm
hứng lớn lao cho những người con như chúng ta tiếp bước hành
hương trong thời đại phương tiện di chuyển dễ dàng hơn
nhiều. (c)
Sự xuống dốc của Đạo Phật do bị xâm lược ở
Ấn Độ và sự tàn phá những đền chùa Phật giáo vào thế kỷ thứ
13, nối tiếp 6
thế kỷ
liên tục
ch́m trong
quên lăng,
là thời
kỳ đen tối nhất của Phật giáo, cũng được nhắc lại
trong quyển sách này khi giải thích về những tàn tích thánh
địa. Cuối cùng, (d) việc khôi
phục những nơi thiêng liêng của Phật giáo và việc làm sống
lại nền Phật giáo ở Ấn Độ được miêu tả vắn tắt lại để độc
giả có thể tôn vinh những nỗ lực của
những con
người cao
quư đă
dâng hiến
cả cuộc
đời ḿnh vào việc khôi phục những thánh tích thiêng
liêng. Đặc biệt, chúng ta măi luôn ghi nhớ công hạnh và
những đóng góp vô
giá của bốn nhà tiên phong lỗi lạc, đó là : Ngài Alexander
Cunningham, Tỳ kheo
Anagarika
Dharmapala,
Tỳ kheo Sayadaw U Chandramani của
Kushinagar, và Tiến Sĩ Babasaheb Ambedkar.
PHẦN V cung
cấp những Thông tin về chuyến đi
hành hương ṿng quanh ‘miền’ Phật giáo nối liền những
thánh địa,
Khoảng
cách giữa
các địa
danh bằng
đường lộ và những
Bản đồ chỉ rơ những vị trí địa lư của những thánh địa
Phật giáo đó.
Hy vọng quyển sách này sẽ mang lại nhiều
điều hữu ích cho quư độc giả, những người đang ôm ấp ư định
thực hiện một cuộc hành hương trong đời về xứ Phật và những
người muốn động viên nhiều Phật tử cố gắng thu xếp một cuộc
hành hương của ḷng
thành, tất cả đều đạt
được nhiều ích lợi và hạnh phúc viên măn trong chuyến đi.
Một
lần nữa,
tôi muốn
nói lời
cảm tạ
đến Cô
Wooi Kheng Choo thuộc Hội Phật Giáo Subang Jaya đă
duyệt đọc lại bản
thảo, giúp
hiệu chỉnh
những lỗi
chính tả
và góp
nhiều ư kiến hữu ích. Tôi cũng tri ân sự giúp đỡ tận t́nh
của anh Tey Seng Heng, người đồng nghiệp của tôi ở Cty
nghiên Cứu Nông Nghiệp Ứng Dụng, trong công việc vi tính.
Tôi cũng cảm ơn nhưng người sau đây, đă giúp chúng tôi thực
hiện những chuyến hành hương thành công và đáng nhớ, đó là
những người cố vấn tâm linh của chúng tôi:
TT.
Sayadaw U
Jnanapurnik ở Nepal
vào năm
1991;
TT.
Saranankara ở Sentul
vào năm
1997;
TT.
Sayadaw U
Rewata ở
Myanmar vào
năm 1997,
1999, 2001; Ni Sư Uppalavanna ở Nepal vào năm 1991;
Những
người cùng
dẫn các
đoàn:
BS.
Wong Wai
Cheong &
Chị Flora Tan vào
năm
1991;
Chị Helen Too, các đạo hữu: Bro. Chan Weng
Poh, Bro. Wong Fok Gee, Bro. Yap Pak Choong & Bro. Lam Cheok
Yew năm 1997;
Chị Wooi Kheng Choo, đạo hữu Bro. Teh Kok
Lai & Chị Kieu
Choon Lai năm 1999;
Chị Tan Lei Hong & đạo hữu Bro. Chiu Sheng Bin năm 2001.
Tôi cũng nhân cơ hội này cảm ơn tất cả thành
viên của những nhóm Hành Hương từ năm 1991-2012 nhờ vào sự
cộng tác và ủng hộ của họ mà những chuyến đi đă suông
sẻ và đầy hoan hỉ. Cuối cùng, nhưng thật quan trọng, tôi
muốn gửi lời cảm ơn tấm ḷng hào hiệp của những nhà tài trợ
đă đóng góp bằng tiền và những trang thiết bị cần thiết và
cúng dường cho
các chùa, đền
ở những
nơi thiêng
liêng trong
suốt hành tŕnh của những chuyến hành hương.
Trong suốt những chuyến đi kéo dài 2 tuần
mỗi chuyến, vài lần không tránh khỏi đối với những người
hành hương, cũng như tác giả, rơi vào những lúc lơ đăng,
thiếu chánh niệm và đă phạm một số lỗi từ thân, ư, miệng đối
với những người Thầy đi theo và đối với những người đồng
hành với nhau.
Thay mặt cho tất cả, tác giả xin phép nhân
cơ hội này có lời xin được khoan dung
từ những vị Thầy hướng dẫn tâm
linh và những bạn đồng hành với nhau.
Nguyện cho công đức của Pháp thí này được
hồi hướng đến cho
những
người thân
quyến
thuộc, bạn
hữu và
tất cả chúng sinh.
Sadhu!
Sadhu!
Sadhu!
Lành
Thay! Lành
thay! Lành
Thay!
Klang,
2002 &
2009
Chan
Khoon
San
(lần
tái bản thứ ba)
Đây là ấn bản lần thứ ba của quyển “Hướng Dẫn Hành Hương
về Xứ Phật” kể từ lần phát hành đầu tiên vào năm 2002.
Với trang b́a mới, thêm nhiều đề tài nội dung và thêm những
thông tin mới về những thánh tích được bổ sung, cập
nhật so với những lần phát hành trước đây. Ví dụ như lỗi sai
trong thông tin về
di tích Đền Matha Kuar ở Kushinagar này đă được chỉnh sửa
lại.
Kể từ năm 2002, tác giả đă liên tục viếng thăm lại nhiều lần
‘miền’ thánh địa Phật giáo và đă đi đến nhiều khu di tích
phật giáo mới, nổi
bật là nơi di tích
Bảo Tháp Ananda
Stupa ở Hajipur;
Pava gần Kusinara; Lauriya Nandangarh ở phía Bắc Bihar;
Kosambi ở Allahabad; Ramagama và Devadaha ở Nepal; Sanchi
ở Madhya Pradesh; Những Hang Động Ajanta Caves ở
Ajanta; và Diksha Bhumi ở Nagpur, Maharashtra.
Và một cơ duyên đến tác giả đă chợt nghe được thông tin về
di vật thiêng liêng b́nh bát của Đức Phật vẫn c̣n ở
Afghanistan đă khiến tác giả bỏ nhiều thời gian thực hiện
việc sưu tầm, nghiên
cứu để xem hiện b́nh bát đang lưu lạc phương nào kể
từ khi Đức Phật ban tặng cho những người bộ tộc Licchavi ở
Vashaili trước khi Bát-Niết-Bàn (Parinibbana) của Người.
Chúng ta có thể t́m hiểu những điều xảy ra đối với b́nh bát
thiêng liêng trong phần “Hành Tŕnh Của B́nh Bát Của Đức
Phật” trong Phần III, 5).
Trong phần những h́nh ảnh, tác giả đă gửi
vào thêm một số h́nh ảnh các Phật tích ở miền Bắc Pakistan.
Cho dù ánh sáng Phật Pháp đă không c̣n được chiếu sáng ở đất
nước này, nhưng Pakistan vẫn c̣n những di tích Phật giáo đẹp
nhất từ
thời hoàng
kim của
nó. Đáng
buồn thay,
nhiều
Phật
tích
thiêng
liêng đă
bị bắn
phá bởi
những quân
lính Talibans ở Thung
Lũng Swat
vào năm
2007, chẳng
hạn trong đó những tác phẩm vô giá như đại h́nh tượng
Phật ở Jehanabad được khắc sâu vào núi đá và những bức tượng
thuộc nghệ thuật Gandhara ở viện Bảo Tàng Swat Museum.
Klang,
2011
Chan
Khoon
San
Đạo hữu Bro. Chan Khoon San sinh ngày
8 tháng Tám, 1941 ở Penang, Malaysia. Sau khi học xong Đệ
Lục hồi đó, ông đă học Trường Đại Học Sư Phạm Mă-Lai-Á
(Malayan Teachers College) ở Brinsford Lodge, Anh Quốc. Sau
khi tốt nghiệp,
ông trở
về quê
hương và
dạy học
trong một
thời gian ngắn từ năm 1964 đến 1967. Năm 1968, ông
vào học trường Đại Học University of Malaya và tốt nghiệp
bằng Cử Nhân Danh Dự ngành
Hóa Học
vào năm
1971. Từ
năm 1971 cho đến khi nghỉ hưu năm 1996, ông làm việc
trong ngành nghiên cứu nông nghiệp dầu cọ, như là một Nhà
nghiên cứu hóa nông thâm niên.
Sau khi nghỉ hưu, đạo hữu Bro. Chan đi Miến
điện Myanmar để tu học thiền Minh Sát Tuệ Tứ Niệm Xứ
(Satipatthana Vipassana) dưới sự dẫn dắt của thiền sư
Sayadaw Bhaddanta Janakabhivamsa ở Trung Tâm Thiền Học
Chanmyay Yeiktha, thủ đô Yangon. Kể từ sau đó, hàng năm ông
đều đến tu học và thực hành thiền Minh Sát Tuệ đă 15 năm
tại Miến Điện dưới sự dẫn dắt của nhiều vị Thiền sư khác
nhau ở thiền viện Chanmyay Yeiktha ở Hmawbi, Miến
Điện.
Bro.
Chan đă
viết những
quyển sách
rất nổi
tiếng về
Phật học, như là: Giáo Tŕnh Phật Học (Buddhism
Course), sắp sửa xuất bản bằng tiếng Việt và quyển Hướng
Dẫn Hành Hương Về
Xứ Phật (Buddhist Pilgrimage), mà quư
độc giả đang cầm trên tay. Từ năm 1991 cho đến 2011
khi quyển sách này được dịch ra tiếng Việt và ấn hành, tác
giả đă
tổ chức
14 chuyến
hành hương
và đích
thân đến
Ấn
Độ
để thăm viếng tất cả những nơi thánh
địa quan trọng của
Phật giáo,
cùng với
rất nhiều
cao Tăng
Ni đến
từ nhiều
nước Phật giáo khác nhau như Miến Điện, Malaysia.
“Trong một bức thư điện tử (email ngày 16
tháng 9, năm 2011) ông gửi cho tôi (người dịch) để cập nhật
những lần hành hương của ông,
trong lúc
tôi đang biên dịch
quyển sách này, ông đă tâm t́nh rằng:
“Tôi luôn trông
đợi những
chuyến đi
thăm viếng
những nơi gắn liền với Đức Phật của chúng ta và cũng để hâm
nóng t́nh đạo hữu, thầy tṛ với những vị Tăng Ni ở nhiều tu
viện, chùa chiền khác nhau ở những nơi thánh địa. Thứ hai,
tôi tổ chức những đoàn hành hương về xứ Phật để cho những
Phật tử hành hương được lợi lạc trong việc thanh lọc
thân tâm
cùng với
sự tăng trưởng ḷng tin và ḷng thành
kính đối với Phật, Pháp và Tăng.”
Ông thường xuyên từ bi trao đổi những thông
tin và kinh sách Phật học với người dịch. Ông đă giúp người
dịch thật nhiều về bản quyền, chỉnh sửa, cập nhật thông tin
và những CD h́nh ảnh gốc chụp những thánh tích vô cùng quư
giá mà ông đă công phu thực hiện và chọn lại trong
suốt gần 20 năm hành hương qua - ND”.
Hiện nay ông làm cố vấn hóa nông bán thời
gian cho những nghiên cứu nông nghiệp ở Malaysia. Phần thời
gian c̣n lại ông nghiên cứu và giảng dạy Kinh tạng tại nhiều
Hội Phật giáo ở Thung lũng Klang, Malaysia, viết luận giảng,
sách và xuất bản sách về Phật học.
Tác giả là một cư sĩ nghiên cứu Phật học,
một thiền giả, người
có tâm
nguyện cao
đẹp và
là một
tấm gương
đáng
kính
và đáng
được tri
ân trong
sự nghiệp
truyền bá
Phật Pháp.
Tôi
không biết
bắt đầu
bằng câu
nào, về
tác giả,
về thánh địa, hay những điều đă chưa từng biết trước
khi đọc quyển sách này. Chỉ có một điều là, không hiểu v́
sao, sau khi đọc
xong, tôi cũng muốn tất cả các bạn và những người con đáng
mến của Đức Phật cũng đọc được quyển sách này.
Tác giả đă bỏ ra nhiều thời gian và những
chuyến đi để viết quyển sách này từ năm 2001, như một món
quà tặng cho mọi
người quan
tâm đến
Phật giáo.
Và từ đó đến
nay, ông
đă luôn tiếp tục lên đường và thường xuyên cập nhật thông
tin để hiệu chỉnh, bổ sung cho quyển sách của lần ấn
bản này. Trong
suốt thời gian biên dịch, tôi mới cảm thụ được rằng tác giả
đă luôn luôn xúc động khi ông viết về từng mỗi Phật tích,
hay mỗi
khi t́m thêm được những chi tiết lịch sử
về thánh tích đó, như ông đă từng tâm t́nh với tôi.
Một quyển sách viết về một cuộc hành hương
đến xứ Phật, nhưng
một lần đọc qua, bạn sẽ ngỡ ngàng như tác giả đă
đọc giùm
chúng ta
rất nhiều
tàng thư
kinh điển
đồ sộ. Bạn
sẽ có cảm giác như ḿnh vừa đọc hết lịch sử thời Vua Asoka,
mười mấy tập Đại Đường Tây Vực Kư của ngài
Huyền Trang, hay Kư Sự Phật Quốc của ngài Pháp Hiển,
và rất nhiều những nghiên cứu của nhiều thế hệ tiên phong
lỗi lạc sau này. Những ghi chép và sự kiện của tất cả họ
trong hơn 20 thế kỷ cứ như đan quyện vào nhau trong cùng một
câu chuyện hành hương đầy thăng trầm và lăng mạn.
Đầu tiên, theo lời khuyên dạy của Đức Phật
trước khi Người từ
giă trần
gian,
những nơi
hành hương
quan
trọng
nhất là Bốn Thánh Địa (Tứ Động Tâm)
là nơi sinh, nơi giác ngộ, nơi khai giảng giáo Pháp và nơi
Bát-Niết-bàn của Đức Phật.
Vua Asoka
là người
hiểu được
ư nghĩa
những thánh
địa là gắn liền với cuộc đời Đức Phật và ngài đă triển khai
thêm bốn thánh địa khác, đó là những nơi gắn liền với cuộc
đời Đức
Phật du
hành và thuyết giảng giáo lư,
đó là
Savatthi, Sankasia, Rajagaha và Vesali.
Như
vậy, tổng
cộng có
Tám Thánh
Địa Quan
Trọng với
gần 100 thánh
tích và
những nơi
đáng dừng
chân thăm viếng khác trên đường hành hương.
Trong ấn bản thứ ba, sau nhiều năm tự thân
hành hương và gặp gỡ với những người bạn là những Tăng, Ni ở
Miền Phật giáo, tác giả đă t́m thấy được thêm nhiều sử tích, sử liệu và di tích gắn liền cuộc đời những bậc
A-la-hán đại đệ tử của Phật, về những nhà vua, hoàng hậu, hoàng tử, công chúa
Phật giáo, và những thí chủ cúng dường cao thượng ngày xưa
và gần đây. Tác giả là một nhà biên tập rất kiên nhẫn. Về ấn
bản thứ ba này, ông mất gần một năm
để biên tập lại quyển sách.
Khi bạn đi hành hương, quyển sách này sẽ trở
thành một trong những
Cẩm Nang
hướng dẫn trong tay ḿnh. Bạn sẽ
lần lượt
viếng thăm
từng khu
hay vùng
thánh địa
và sẽ
chiêm bái những di tích
trong từng thánh địa
trong 1 hay 2 ngày. Khi
nghỉ đêm,
bạn có
thể đọc
lại những
di tích
mà hôm sau
ḿnh sẽ
đến viếng
thăm, hoặc
trong khi
ngồi trên
xe buưt, hoặc ngồi nghỉ ngơi trước khi bước đến một di tích khác, bạn cũng có thể vào đọc lại về thông tin thánh
tích đó. Điều đó,
trong bối
cảnh đang
hành hương,
sẽ làm
bạn nhớ
măi về thánh tích
đó. Bạn
sẽ tiết
kiệm
được nhiều
thời gian, để lo cho việc tôn kính, lễ lạy và chánh
niệm đúng như tâm nguyện ban đầu của chuyến đi.
Nếu bạn đọc đă từng đọc chi tiết về những cuộc hành hương
của hai nhà Hành hương Trung Hoa là Pháp Hiển và Huyền
Trang, bạn có thể không cần đọc lại các Mục 3, 4, 5 &
6 của
Phần IV,
v́
trọng tâm
của quyển
sách này
là nói về
chi tiết lịch sử các Phật tích, di tích, và Lịch tŕnh hành
hương, được ghi trong Phần I, II, III & V. Tuy nhiên,
đối với những ai chưa đọc những ghi chép của ngài Pháp Hiển
và Huyền Trang, th́ cần đọc lại những chuyến đi lịch
sử đầy cảm động này.
Mục đích
của tác
giả trích
dẫn lại
chi tiết
của những cuộc hành hương này là v́:
(1) Để cho đọc
giả hiểu được ư chí, công sức và chi tiết hành tŕnh của hai
nhà chiêm bái Trung Hoa này, v́ (2) Tác giả muốn cho
những độc giả hiểu rằng những lịch sử, Phật tích,
thánh tích xưa
được ghi
chép trong
Kinh điển
và lịch sử
đóng góp của Vua Asoka là trùng khớp với những ghi chép của ngài Pháp Hiển và Huyền Trang. Và v́
(3), điều quan trọng nhất
là hầu
hết những
Phật Tích,
thánh tích
quan trọng nhất của Ấn Độ được khai quật bởi những nhà khảo
cổ vĩ
đại đều
dựa vào
những ghi
chép của
hai nhà
hành hương này trong 2 quyển kư sự
là: Kư Sự Phật Quốc và Kư Sự Tây Vực.
Nếu
không có hai cuộc hành hương này, và hai quyển kư sự này,
ngày nay có thể chúng ta đă không thể nào t́m lại được và
khôi phục lại những Phật Tích và thánh tích ngày xưa, vốn đă
bị chôn vùi bên dưới đất qua mấy ngàn
năm.
Quyển sách cũng kèm theo nhiều h́nh ảnh của từng
Phật tích và thánh tích quan trọng mà tác giả cũng đă miệt mài
chụp và lựa chọn trong gần 20 năm qua. Trong khi đọc về một di tích nào, các bạn có thể lật ra cuối sách để nh́n h́nh ảnh
và có thể h́nh dung ra được cách quyển sách miêu tả về di tích
đó. Nếu các bạn chưa đủ duyên để làm một chuyến đi đến Miền Phật
giáo, th́ các bạn cũng đă có
cảm giác là đă
đi được một phần, với sự hiểu biết cùng với những h́nh ảnh minh
họa này.
Một cuộc hành hương về xứ Phật và đến Tám Thánh
Địa Quan Trọng này có thể là một trong những quăng thời gian
hạnh phúc nhất và măn nguyện nhất trong cuộc đời của một người,
và làm cho chúng ta chợt nhận ra ḿnh thật may mắn khi được ngắm
nh́n những
nơi thiêng
liêng cổ
kính ngày xưa
mà tràn ngập một ḷng thành kính và bâng khuâng
không bao giờ tả hết được.
Mùa
Thu
2011
(PL.
2555)
Lê Kim
Kha
Quyển sách này được cố gắng viết để vừa tự học vừa tỏ
ḷng biết ơn đến những người thầy ở gần ở xa.
Kính tặng quyển sách này cho các thầy: HT. Thích Thanh Từ
TT. Thích Thông Phương
Kính tặng thầy Thích Trúc Thông Kim & các thầy từ Thiền
Viện Trúc Lâm Đà Lạt đang xây mở thiền viện Trúc Lâm ở Tiền
Giang. Các thầy Khế Định, Bảo Tú từ Thiền viện Thường Chiếu
đang xây mở thiền viện Trúc Lâm ở Phan Thiết.
Xin cảm tạ công đức của thầy Thích Trúc Thông Tịnh, người
đă đọc lại bản thảo này và góp ư đính chính cho quyển sách.
(I)
Những Khía Cạnh Tâm Linh Của Cuộc
Hành Hương
1.1
Chuyến Đi Của
Niềm Tin
& Ḷng
Kính
Đạo
Đối
với đa số Phật tử, việc thực hiện một cuộc hành hương
đến những nơi thiêng liêng như Đức Phật đă đề
xướng, là một việc làm một-lần-trong-đời.
Với
rất nhiều thời gian, tiền bạc và nỗ lực bỏ ra, điều đó bắt
buộc một người đang chuẩn bị hành hương phải hiểu rơ
cuộc hành hương là v́ mục đích ǵ, đặc biệt là về khía
cạnh tâm linh, bởi v́ về mặt vật chất và di chuyển thông
thường đă có một
công ty lữ hành chịu trách nhiệm lo chu toàn rồi.
Một cuộc hành hương là
một chuyến đi đến nơi thiêng liêng để thể hiện ḷng thành
tâm mộ đạo và niềm tin. Trong kinh điển Phật
giáo, chữ niềm tin (tín) hay saddha là sự
xác tín hay vững tin dựa vào sự hiểu biết
chắc chắn của một người đối với Phật, Pháp, Tăng. Nó không
phải là một đức tin mù quáng dựa vào những quan điểm sai lệch. Bởi v́ ngu si, vô
minh là kẻ dẫn dắt ḿnh đến những tâm niệm trái đạo lư, th́
niềm tin “saddha” là người dẫn dắt ḿnh đến
những tâm niệm hợp đạo
lư, bởi v́ niềm tin vững
chắc sẽ
có vai tṛ làm cho tâm thanh tịnh, như Đức
Phật đă dạy.
V́
vậy, một
người hành
hương
không phải
giống
như một du khách, đi t́m thú vui tham quan, ngắm cảnh và
thưởng
thức. Khác
với những
đối tượng
khoái cảm
giác
quan, những
cảnh quan của những nơi thánh địa không hề
làm khởi sinh dục vọng, nhưng là điều kiện để những
tâm niệm lành mạnh khởi lên trong tâm người hành hương.
Trước khi từ giă trần
gian, Đức Phật đă khuyên chúng ta
đi thăm viếng những nơi là:
Nơi
Người đă
đản
sinh
Nơi
Người đă
Giác Ngộ
thành
Đạo
Nơi Người khai giảng
Bài Thuyết Pháp Đầu Tiên,
và Nơi Người đă ra đi
hay nhập diệt Đại Bát-Niết-bàn
và
chiêm bái những thánh tích bằng những t́nh cảm tôn
kính.
Bằng
cách thể
hiện ḷng
thành và
sự tôn
kính ở
những nơi thánh tích, mọi người có thể thanh lọc ba
nghiệp “hành động, suy nghĩ và lời nói” (thân, ư,
miệng). Bằng cách này, người hành hương được tăng trưởng
đạo hạnh Chánh Tư
Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp là ba nghiệp quan trọng, cũng
là ba chi phần trong Bát Chánh Đạo.
V́ thế, chúng ta có
thể thấy rằng việc hành hương bằng những thái độ tinh thần
đúng đắn có thể giúp chúng ta thực hành đúng những Lời
Dạy của Đức Phật. Theo như luận sư lỗi lạc Buddhaghosa
(ngài Phật Âm):
“Cảm
thọ tích cực có được khi viếng thăm những thánh tích là sự
trỗi dậy và cảm giác thôi thúc về mặt tâm linh (hướng
đạo) mà những nơi đó tạo ra”.
[Ư
nói rằng, khi một người thăm viếng những nơi
Phật tích
thiêng
liêng, th́
cảnh quan
ở những
nơi đó
cùng với
những sự
xúc động,
những suy
niệm sẽ
làm cho
người
đó tăng
thêm ḷng nhiệt thành về đạo, ḷng thôi thúc tu tâm sửa
nghiệp để mau chóng đến ngày giải thoát khỏi đau khổ và những vô thường của thế gian]. (ND)
Một luận sư khác là
ngài Dhammapala giải thích rằng
cảm giác thôi thúc về tâm linh có
nghĩa là tâm có một tuệ
giác là ḿnh phải từ bỏ những điều bất thiện, đó là
tuệ giác chánh đạo.
1.2
Bốn Cơ Sở
Thành
Công
Giống như hành động
trí tuệ đáng khen ngợi (punna kiriya), tiềm năng hành
động của mỗi con người phụ thuộc vào mức độ của bốn cơ sở
thành công (iddhipada), bốn điều kiện cần có đó là:
Mong muốn thực hiện (chanda), Tâm
(citta), Nỗ lực (viriya)
và Trí tuệ (vimansa). Tiềm năng hay kết
quả (của một việc, một hành động) có được
tốt, trung
b́nh hay yếu kém đều phụ thuộc vào bốn cơ sở
tương ứng đó có đủ mạnh, trung b́nh hay yếu ớt sơ sài.
Một Mong muốn,
một ư muốn mạnh mẽ thường xuất
phát từ ḷng thành của một người trong việc thực hiện
một cuộc hành hương hướng theo
lời khuyên của Phật. Khi
Tâm và ư nguyện đă mạnh mẽ, th́ không có ǵ
làm người đó xao lăng ư định và cũng không có trở ngại, gian
khó nào của chuyến đi có thể làm nản ḷng người hành hương
được. Nỗ lực có nghĩa là nghị lực để thực hiện chuyến
đi hành hương, mà những ngày thật xa xưa kia nó có nghĩa là
một chuyến đi dài
và ngh́n
trùng xa
qua bao
nhiêu lục
địa, biển
lớn và băng
qua những sa mạc mịt mùng.
Ngày nay, chúng ta có
thể hành tŕnh bằng máy bay và
trên những xe buưt có gắn máy lạnh, nhanh hơn và dễ
dàng hơn nhiều, tuy nhiên sự Chuẩn bị là điều thật sự
không thể thiếu được, đặc biệt là t́m hiểu rơ về ư nghĩa
lịch sử và tâm linh của mỗi nơi thánh địa trong lịch tŕnh
hành hương. Với sự
Hiểu biết này, một người có thể chiêm nghiệm và liên
tưởng một nơi thiêng liêng đang viếng thăm với những sự kiện
trong cuộc đời của Đức Phật lịch sử, điều đó giúp bạn h́nh
dung ra được
một bức
tranh trong tâm, tạo
điều kiện hay duyên làm khởi
sinh những tâm niệm lành mạnh và
thánh thiện khi chiêm bái thánh tích đó.
Điều này chỉ đích thực có được về mặt trí tuệ và tâm linh
bởi những người đă có chuẩn bị chu đáo cho cuộc hành
hương.
(Bởi
v́ có rất nhiều người chỉ tham gia cuộc hành hương v́ sự ṭ
ṃ, hay gần như là ‘mê tín’ chỉ v́ nghe đến những
nơi được cho là ‘linh thiêng’ th́ đến thăm chỉ đơn
thuần là cầu được phúc đức. Điều đó cũng giống như những
người đến
viếng thăm
các Chùa
thường
xuyên, v́
một số
ḷng thành và sự cầu khẩn nào đó, mà chẳng hiểu biết
nhiều về ư nghĩa của việc đến viếng Chùa theo đúng giáo pháp).
(ND)
Tất cả những yếu tố
cơ sở thành công này đều đă được trang bị trong tim
của những nhà hành hương Trung Hoa ngày trước như ngài
Pháp Hiển (Fa Hsien), Huyền Trang (Hsüan Tsang), Nghĩa Tịnh
(I-Ching) và nhiều người khác
khi họ lên đường hành hương sang Ấn Độ cách đây mười
mấy thế kỷ.
1.3
Tăng
Trưởng 10 Điều Hoàn Thiện (Ba-la-mật / Parami)
Khía cạnh thứ hai của
một cuộc hành hương đó là hành động buông bỏ, nghĩa
là người hành hương nên từ bỏ những nhu cầu hay tham dục xa
xỉ, và nên hài ḷng với những tiện nghi,
xe cộ
và thức
ăn đơn
giản, thanh
tịnh. Tâm
niệm không tham dục giúp cho người hành hương chịu
đựng được những bất tiện và vất vả bằng ḷng nhẫn nại và
từ bi, mà không hề phàn nàn, than văn.
Trong thời gian thăm viếng một thánh tích, người hành hương
cảm thấy ḿnh đang ở nơi có sự hiện diện của Đức Bổn Sư và
chính niềm tin miên mật này sẽ mang lại ḷng hoan hỉ
và sự tuân giữ giới hạnh, vốn là nền tảng của công
đức.
Nhiều người c̣n thực
hành bố thí (đàn-na), cúng dường cho những Tăng Ni để tỏ
ḷng kính trọng và biết ơn đối với những thầy đă
chăm sóc và giữ ǵn những nơi thiêng liêng.
Những thánh tích này
cũng là những nơi mà những người hành hương quán chiếu về
những công hạnh của Đức Phật
và thực hành chánh niệm nhằm phát triển và trí
tuệ. Có nhiều cách thực hành công hạnh khác nhau để một
người thể hiện ḷng thành kính ở những thánh tích hay bảo
tháp (cetiyas) bên cạnh những nghi thức thông thường
như dâng hoa, cúng đèn, thắp hương, và vái lạy trong nghi lễ
cúng đường (puja).
Trong quá tŕnh hành hương, trong một người có thể khởi sinh
nhiều thiện tâm, làm cho ḿnh trở nên tốt đẹp và cao
thượng hơn,
v́ vậy
sẽ tạo
ra nhiều
thiện
nghiệp tốt
đẹp
hơn
(kusala
kamma). Thật vậy, người hành hương có thể phát
triển những Điều Hoàn Thiện hay Ba-la-mật (Paramis)
và tích nhiều công
đức trong chuyến hành hương bằng ḷng
thành.
Nhưng điều đó không
nên được kết thúc sau khi kết thúc chuyến hành hương và trở
về nhà, mà bạn phải luôn luôn cố gắng hồi tưởng hay chánh
niệm lại trong trí nhớ những khoảnh khắc đầy hoan hỉ và khó
diễn tả ḿnh đă trải qua ở những nơi thiêng liêng của Phật,
và giữ cho những kỉ niệm
đó luôn
luôn sống động trong kư ức của mỗi người. Sự hồi tưởng đó
lại khởi sinh ra niệm hỉ lạc hạnh phúc mới và là phương tiện
thiện xảo để củng cố những thiện nghiệp mà ḿnh đă tích cóp
được trong chuyến hành hương.
Về sau, vào những lúc
bệnh tật, lo sợ hay buồn đau trong cuộc đời ḿnh, bạn sẽ có
thể dễ dàng xua tan đi những phiền năo đó bằng cách t́m niềm
vui thanh tịnh trong việc nhớ lại những hành vi tốt đẹp
nghiệp tốt trong chuyến hành hương.
1.4
Hội Ái Hữu
Phật Giáo
hay Hội
Đạo Hữu
Đồng
Hành
Hội ái hữu có nghĩa là
nhóm người hay cộng đồng cùng mục đích thường xuyên họp mặt,
chia sẻ những trách nhiệm và giúp đỡ lẫn nhau trong mối quan
hệ và t́nh cảm bạn hữu. Khía cạnh ư nghĩa của Hội Ái Hữu
Phật giáo hay đạo hữu Phật giáo cũng rất quan trọng trong
việc khuyến khích và giúp
đỡ của
những người
khác thực
hành những
Lời Dạy của Đức Phật và củng cố niềm tin của chúng ta vào những
lúc bắt đầu tu tập và những lần khổ sở trong cuộc
đời.
Một
cuộc
hành hương
theo một nhóm hay một đoàn
đến Tám Thánh Địa Quan Trọng là cách tốt nhất để gieo trồng mối
quan hệ
đạo hữu
Phật giáo.
Trải qua
2 tuần,
hoặc hơn nữa, của một cuộc hành hương, những người trong
nhóm hành hương đều có những cơ hội giao tiếp gần gũi với
nhau và quen biết nhau trong những không khí của ḷng từ bi, ḷng
hoan hỉ, hào hiệp và ḷng thành tín
ngưỡng.
Mối quan hệ gắn bó của
t́nh đồng đạo được h́nh thành trong lúc cùng
nhau thực hiện
những đạo hạnh sẽ c̣n măi
sau chuyến hành hương và những người hành hương sẽ
luôn nâng niu những kỷ niệm đáng quư đó mỗi khi hồi tưởng
lại những khoảnh khắc ḿnh trải qua ở những nơi chiêm bái.
Một chuyến đi hành hương đến Tám Thánh Địa Quan Trọng
cùng với
những đạo
hữu, đoàn
kết bằng
niềm tin
và ḷng mộ
đạo thật sự là t́nh ái hữu Phật giáo và là cách tuyệt
vời nhất để phát huy t́nh bạn hữu giữa mọi người.
1.5
Khởi Sinh Sự Thúc Giục Về Mặt
Tâm Linh Trong Chuyến Hành Hương
Theo những ghi chép
của Kinh Điển, Bốn Thánh Địa
Hành Hương (Tứ Động Tâm), được gọi là Samvejaniya-
thana, có nghĩa là những nơi sẽ làm khởi sinh trong ḷng
ư thức và sự động tâm về bản chất Vô Thường
của vạn vật.
V́
vậy, những
người hành
hương
khéo tâm
sẽ t́m
thấy cơ hội trong chuyến hành hương làm tăng thêm niềm
Thúc
Giục về mặt tâm linh (samvega) bằng
cách quán chiếu
những lời dạy cuối cùng của Đức Phật trước khi người nhập
diệt Bát-Niết-Bàn:
“Này
các Tỳ kheo, bây giờ ta nói với các thầy: Tất cả các pháp
hữu vi
đều vô
thường. Hăy
nỗ lực
tinh tấn
(tu hành)
để đạt được mục tiêu (giải thoát) của ḿnh”.
(Trích
Kinh Đại
Bát-Niết-Bàn)
Bốn
thánh địa đă từng là những trung tâm gắn liền với cuộc đời
của Đức Phật, với Giáo Pháp (Dhamma) và những Tỳ kheo
A-la-hán (Arahant) nổi tiếng của Tăng Đoàn
(Sangha).
Hẳn chúng ta đă từng
ít nhiều đọc hay nghe về những sự kiện Đức Phật Đản Sinh ở
Lumbini, Đức Phật Thành Đạo ở Buddhagaya (Bồ Đề Đạo Tràng),
Đức Phật khai giảng Bài Pháp Đầu Tiên ở Isipatana (Vườn
Nai), và Đức Phật Bát- Niết-Bàn ở Kusinara.
Ngày nay, Phật và
những vị A-la-hán đầu tiên không c̣n
ở đó nữa, cũng v́ một lẽ thật là ngay cả Đức
Phật và những A-la-hán lỗi lạc đó cũng không vượt qua quy
luật thế gian “sinh, lăo, bệnh, tử”. Lẽ thật là thế giới
của tất cả chúng
sinh (satta-loka) không bao giờ thường hằng mà
phụ thuộc vào sự biến đổi theo Quy Luật Vô Thường. Chỉ cần
đến nh́n thánh địa
và chiêm
nghiệm lại
điều này,
chúng ta
không khỏi có cảm giác “nôn
nao”, “thúc bách” về tâm linh (samvega)
trong ḷng ḿnh về việc nổ lực tu tập con đường Bát
Chánh Đạo
để mau
dẫn đến
Niết-Bàn
Nibbana, chấm dứt
mọi khổ đau của sinh tử.
Sau khi Bát-Niết-Bàn
của Đức Phật, những người kính
đạo khắp Ấn Độ đă xây nhiều bảo tháp (stupa)
và tu viện (vihara) để tưởng niệm những sự kiện quan trọng trong
cuôc đời Đức Phật và Phật Pháp ở những nơi này.
Như
chúng ta đă đọc, lịch sử có đến 84.000 bảo tháp (stupas)
được xây dựng bởi vua Asoka để tôn kính và tưởng niệm
84.000
xá lợi
thuộc
về (hay
liên quan
đến) Phật
và
những bậc
A-la-hán. Những xá lợi này c̣n được gọi là
những Pháp-uẩn (Dhamma-khandas), cùng với
những công tŕnh tưởng niệm khác được xây bởi những vị vua
Phật tử thuộc những triều đại khác nhau sau này.
Hôm nay, những người
hành hương phải đi qua những khoảng cách dài trên những con
đường xấu khó đi để đi đến của những vùng xa xôi của miền
Bắc Ấn Độ chỉ để chứng kiến những di tích đổ nát điêu tàn
của những đền tháp huy hoàng một thời hoàng kim xa xưa đă bị
phá hủy, thậm chí đă bị tiêu hủy.
Cho dù những ư đồ, ư
nguyện hay tâm lư chung của
người xưa là xây đền, tháp to lớn, kiên cố để tưởng
niệm trường cửu, để ‘trừ hao’ thời gian và khả năng bị con
người phá hoại (ví dụ rơ ràng nhất là những Trụ Đá Asoka uy
nghi bằng đá cứng gần như khó bị hư hoại hay bị phá hoại).
Tuy nhiên, bất chấp những ư đồ đó, hầu hết tất cả những công
tŕnh tưởng
niệm đó
đều đă
bị tan
hoại và
bị tàn
phá theo
thời gian: Không có cái ǵ là tồn tại măi măi được.
V́
vậy, chúng ta ư thức được rằng thế giới hữu vi (sankhara-loka)
và thế giới tự nhiên
(okasa-loka) không bao giờ thường hằng mà biến đổi theo quy luật Vô Thường. Ư
thức này có thể là một trong cảm xúc trong nghĩa “động
tâm”, làm cho kẻ hành hương cảm giác nôn nao khó tả,
như là
một sự
thúc giục
tâm linh
về một
kiếp người
ngắn ngủi,
về sự cấp bách thực hành Chánh Đạo để mau có ngày giải
thoát.
(II) Tám Thánh Địa Quan
Trọng Của Cuộc Hành Hương
Để đáp lại sự lo lắng
của ngài Ananda rằng những Tỳ
kheo sẽ không c̣n cơ hội để gặp và đảnh lễ Đức Phật
sau Đại
Bát-Niết-bàn của Người, Phật đă đề cập đến bốn thánh
địa mà những Phật tử mộ đạo nên viếng thăm và tỏ ḷng
tôn kính. (Giới Phật tử Trung Hoa và Việt Nam thường hay gọi
bốn nơi đó là Tứ Động Tâm). Bốn (4) nơi đó là:
(1)
Lumbini:
“Đây là nơi Như Lai đă đản sinh. Nơi này, này Ananda, là
nơi một người kính đạo nên viếng thăm
và chiêm bái với ḷng thành kính”.
(2)
Buddhagaya
(Bồ-Đề Đạo Tràng): “Nơi đây Như Lai đă giác ngộ
viên măn, Vô Thượng Chánh Đẳng Giác!.
Nơi này, này Ananda, là nơi một người kính đạo nên
viếng thăm và chiêm bái với ḷng thành kính”.
(3)
Sarnath (Vườn
Lộc Uyển): “Nơi đây Như Lai đă
dịch chuyển Bánh Xe Giáo Pháp!. Nơi này, này Ananda,
là nơi một người kính đạo nên viếng thăm và chiêm bái
với ḷng thành kính”.
(4)
Kusinara
(Câu Thi Na): “Nơi đây, Như Lai đă nhập diệt Niết-bàn,
nơi mà những uẩn dính chấp không c̣n khởi sinh ! Nơi này,
này Ananda, là nơi một người kính đạo nên viếng thăm và
chiêm bái với ḷng thành kính”.
“Và,
này Ananda, nếu bất kỳ ai bị thiệt mạng trong một chuyến
hành hương như vậy, với niềm tin sâu sắc trong ḷng, th́ khi
thân hoại, sau khi chết, người ấy sẽ được tái sinh về một
cơi trời hạnh phúc”.
(Trích Kinh “Đại
Bát-Niết-bàn”)
C̣n
Bốn thánh địa khác cũng là những nơi được thánh hóa
bởi Đức Phật và những cảnh tượng kỳ diệu đă
xảy ra, đó
là:
(5)
Savatthi
(Xá-Vệ), nơi Đức Phật dùng hai phép Thần Thông để hàng phục
lục sư ngoại đạo. Sau đó, Phật xuất hành lên cơi trời
Đao-Lợi (Tavatimsa) để thuyết giảng Vi Diệu Pháp (Abhidhamma)
cho mẹ của Người.
(6)
Sankasia,
nơi Đức Phật hạ thế xuống lại trần gian từ cơi trời Đao-Lợi
(Tavatimsa), tháp tùng bởi Phạm Thiên (Brahma)
và Vua trời Đế-thích (Sakka), sau khi Phật đă thuyết
giảng Vi Diệu Pháp cho mẹ của Người và những
vị Trời, Thần trong 3 tháng).
(7)
Rajagaha
(Vương Xá), nơi Đức Phật thuần phục con Voi Say.
(8)
Vesali
(Tỳ-xá-ly), nơi đàn khỉ đào một ao nước cho Đức Phật dùng và
cúng dường lên Đức Phật một bát mật
ong.
Tổng cộng: chúng ta có
8 địa danh quan trọng phải thăm viếng trong cuộc hành
hương.
Trong
8 địa
danh đó,
7 địa
danh là
thuộc Ấn
Độ ngày
nay và 1 nơi là Lumbini, nơi Đức Phật đản sinh, là thuộc nước Nepal, gần biên giới Ấn Độ.
Theo ghi chép trong
quyển “Luận Giảng Bộ Phật Sử” (Buddhavamsa
Commentary, trang 188, 428), đối với tất cả chư Phật, có
4 nơi thánh tích là không hề thay đổi và không thể làm thay
đổi được, đó là:
(a)
Nơi Đức Phật ngồi
thiền để đạt Giác Ngộ (Bodhi pallanka: chiếc Trường Kỷ
Bồ-Đề) ở Bodhgaya (Bồ-Đề Đạo Tràng).
(b)
Nơi Đức Phật chuyển
bánh xe Giáo Pháp tại Vườn
Nai (Lộc Uyển), Isipatana, Sarnath.
(c)
Nơi
Phật đặt
bước chân
đầu tiên
ở cổng
thành
Sankasia
sau
khi trở
về trái
đất từ
cơi trời
Đao-Lợi.
(d)
Nơi đặt bốn
chân giường trong đền Gandhatuki (Hương Thất)
ở tu viện Kỳ Viên Jetavana, Savatthi (Xá-vệ).
Vậy, Bốn nơi không để
đổi dời của chư Phật cũng nằm trong Tám Thánh Địa Quan Trọng
của cuộc hành hương.
±
Chú
thích:
Tên của một số nơi
được ghi chép trong kinh điển Pali hiện nay đă bị thay đổi ở
Ấn Độ. Tên hiện
nay của những
nơi đó được ghi trong dấu ngoặc (...) là như sau:
Buddhagaya (Bodhgaya),
Kusinara (Kushinagar),
Rajagaha (Rajgir),
Savatthi (Sravasti), và Vesali (Vaishali).
1.1
Thái Độ Tinh Thần Khi Bước Vào Những Thánh
Tích
Một điều quan trọng
cần nhắc nhở chúng ta, những người hành hương đến đây là để
tưởng niệm và tôn kính Đức Phật. V́ vậy, khi chúng ta đến
những di tích thiêng liêng, chúng ta cần giữ thái độ kính
trọng một cách đúng mực và phù hợp.
Đức Phật được gọi là
vị “Vua của giáo pháp” hay một Pháp Vương (Dhamma-raja)
và khi chúng ta bước vào những nơi
tưởng niệm
người, chúng ta
đang đảnh
lễ trước
sự có mặt của một vị “Vua” mà chúng ta tôn kính.
Người hành hương đến
thánh tích không nên chụp h́nh
lia lịa,
đi lại
lăng xăng,
giải thích
nhau hay
nói nhau ríu rít và cũng không
nên có thái độ như là khách du lịch tham
quan, t́m hiểu bằng sự ṭ ṃ hay t́m hiểu quang
cảnh.
Thay v́ vậy, người hành hương nên giữ cho các
giác quan
(căn) b́nh lặng và trầm tĩnh.
Người hành hương chiêm bái nên đi một cách chánh niệm, đầu hơi nghiêng xuống
và hai tay chấp h́nh búp sen để tạo sự trang trọng và tập
trung niệm về những đức hạnh của Phật (niệm Phật). Khi bước
vào nơi thờ cúng, chánh điện, bảo tháp…, người chiêm bái nên
giữ thái độ như đang bước vào đảnh lễ trước mặt Đức Phật,
sau đó thực hiện những nghi thức cúng đường (puja),
lễ lạy và niệm
tâm nương
tựa vào
Tam Bảo
bằng
cách đọc hay tâm
nguyện giữ Ngũ Giới hay Bát Giới và tụng niệm về Phật, Pháp,
Tăng.
Bằng
cách thể hiện đúng đắn và phù hợp như thế, một
Phật tử kính đạo đă thăm đến viếng và chiêm bái những nơi
thiêng liêng đúng đắn “với ḷng thành kính”, như Phật đă
dạy.
(*)
Samvega
là cảm
xúc của Thái Tử Siddattha lần đầu tiếp xúc với cảnh người già,
bệnh và chết. Đây là
một từ khó dịch v́ nó
bao hàm nhiều mức độ của cảm xúc: (a) cảm giác đè nặng do choáng
sốc, vỡ mộng và chán ngán khi nhận ra sự phù phiếm, vô nghĩa
của đời sống; (b) cảm giác khiêm nhượng do nhận ra đă
ḿnh tự măn và khờ dại khi sống một cách mù quáng; (c) cảm giác
bồn chồn khắc khoải do ư thức tính cấp bách của việc t́m
cách thoát ra khỏi cái ṿng quẩn quanh vô nghĩa này.
Khó t́m được
một từ nào
trong ngôn ngữ chúng
ta có
thể gói
ghém đầy đủ cả ba tâm trạng đó. Có lẽ chúng ta nên du
nhập thẳng từ samvega vào trong ngôn ngữ của ḿnh….
Cảm xúc của Thái Tử với
người thứ tư mà Người gặp ngoài cung điện: vị sa-môn du hành.
Cảm xúc lúc này của Người có tên là pasada, một loại cảm
xúc đa chiều khác, thường được dịch là ‘niềm tin trong
sáng’ (‘niềm
tin thanh
tịnh’, ‘tâm
tịnh tín.’).
Đây là cảm xúc
giữ cho cảm giác samvega không biến thành tuyệt vọng!.
Thái tử đă ư thức rơ t́nh trạng hiểm nguy của ḿnh, và ư thức về
một con đường thoát khỏi t́nh trạng ‘già, bệnh, chết’ và tin
tưởng có một con đường sẽ thành công.
(Theo
tham luận “Tin vào Trái Tim - Giáo lư về Samvega & Pasada”,
1997, của Tỳ kheo Thanissaro do Thích Nữ Chân Giải Nghiêm dịch).
ND
Trang Sử
Liệu
Cập nhật 11/5/2025
|