HƯỚNG DẪN HÀNH HƯƠNG VỀ XỨ PHẬT
 
Chan Khoon San
Lê Kim Kha dịch
 

MỤC LỤC

Lời Tựa

Lời Tựa Bổ Sung (Lần tái bản thứ ba 2011)

Về Tác Giả.

Lời Nguời Dịch

Ư Nghĩa Của Việc Hành Hương

 

Phần I – Bốn Thánh Địa Thiêng Liêng (Tứ Động Tâm)

1.   Lumbini, Nơi Đức Phật Đản Sinh.

2.   Bodhgaya (Bồ-Đề Đạo-Tràng), Nơi Đức Phật Giác Ngộ

3.   Sarnath (Vườn Nai), Nơi Đức Phật Khai Giảng Bài Thuyết Pháp Đầu Tiên

4.   Kusinara (Câu-Thi-Na), Nơi Đức Phật Đại Bát-Niết-Bàn

 

Phần II Bốn Nơi Xảy Ra Điều Thần Diệu.

1.   Savatthi (Thành Vệ), Nơi Xảy Ra Hai Điều Thần Diệu.

2.   Sankasia, Nơi Đức Phật Hạ Thế Từ Cơi Trời Đao Lợi

3.   Rajgir, Nơi Đức Phật Thuần Phục Con Voi Say Nalagiri

4.   Vesali (Tỳ-Xá-Ly), Nơi Bầy Khỉ Dâng Cúng Mật Ong Cho Phật

4.5.1. (a) Sự  Truyền Của Phật Giáo Ra Ngoài Ấn Độ

4.5.2. (a) Những Tượng Phật & Nghệ Thuật Điêu Khắc Phật Giáo ở Ấn Độ

5.   Sự Lưu Lạc Của B́nh Bát Của Đức Phật

 

Phần III – Những Tháp Tưởng Niệm Đáng Ghi Nhớ Khác Dọc Theo Đường Hành Hương

1.   Sự Ra Đời & Phát Triển Của Những Tháp Tưởng Niệm Stupa: Đối Tượng Để Tôn Kính

2.   Pava, Nơi Đức Phật Thọ Thực Bữa Ăn Cuối Cùng.

3.   Kesariya, Di Tích Tháp Tưởng Niệm Stupa Cao Nhất Thế Giới 

4.   Tháp Tưởng Niệm Ananda Stupa Hajipur

5.   Kosambi, Di Tích Nơi Xảy Ra Cuộc Tranh Biện & Phân Ly Trong Tăng Đoàn Sangha

6.   Chỉ Dụ Được Khắc Lên Đá Của Vua Asoka (Thạch Pháp Dụ) 

7.   Đại Bảo Tháp Stupa Sanchi

 

Phần IV – Những Nhà hành Hương Lỗi Lạc & Những Người Khôi Phục Phật Tích và Nền Phật Giáo Ở Ấn Độ.

1.   Những Nhà Hành Hương Lỗi Lạc Trong Quá Khứ.

2.   Sự Phật Quốc Của Ngài Pháp Hiển (Fa Hsien)

3.   Sự Tây Vực Của Ngài Huyền Trang (Hsüan Tsang)

4.   Sự Tàn Phá & Suy Vong Của Phật Giáo Ấn Độ

5.   Sự Khôi Phục Những Di Tích Phật Giáo Ấn Độ

6.   Cuộc Phục Hưng Phật Giáo Ấn Độ

7.   Sayadaw U Chandramani ở Kushinagar: người Anh Hùng Phật Pháp ở Ấn Độ

8.   Tiến Sĩ Babasaheb Ambedkar: Người Lănh Tụ Của Giai Cấp Hạ Tiện Ấn Độ

 

Phần V – Hành Tŕnh Đi Đến Tám Thánh Địa Quan Trọng 

1.   Hành Tŕnh Đến Những Nơi Hành Hương Ấn Độ.

2.   Việc Bố Thí, Cúng Dường Cho Tăng Ni

3.   Thông Tin Hướng Dẫn & Những Lời Khuyên Khi Đi Hành Hương Ấn Độ

4.   Khoảng Cách Đi Đường Giữa Những Nơi Hành Hương 

5.   Bản Đồ Chỉ Vị Trí Địa Lư Của Những Nơi Hành Hương ở Ấn Độ

6.   Những Nhóm Hành Hương Từ Năm 1991-2011 & Gợi Ư Lịch Tŕnh Thiết Thực Nhất

7.   Lịch tŕnh chuyến Hành Hương Ân Độ 13 ngày (16/11- 28/11/2013) tác giả & người dịch. 

8.   Thư Mục Sách & Tài Liệu Tham Khảo.

 

Phần Cuối – Phụ trang H́nh Ảnh & Các Di Tích Hành Hương 

1.   H́nh Ảnh Bốn Nhà Tiên Phong Trong Cuộc Phục Hưng Phật Giáo Ấn Độ.

2.   Bản Đồ cuộc hành tŕnh Tây Du của Huyền Trang.

3.   Bản Đồ Chỉ Vị Trí Địa Lư Của Những Nơi Hành Hương ở Ấn Độ

4.   H́nh Ảnh Các Phật Tích, Di Tích.

 

 

LỜI TỰA

 

Ư tưởng về một cuộc hành hương về xứ Phật là do chính Đức Phật nói ra. Trước khi Người nhập diệt Đại Bát-Niết- bàn, Phật đă khuyên những đệ tử kính đạo nên viếng thăm, chiêm bái bốn nơi để được tăng thêm sự truyền cảm về tâm linh của ḿnh sau khi Người từ giă trần gian. Những nơi đó là Lumbini, nơi Đức Phật đản sinh; Bodhagaya (Bồ Đề Đạo Tràng), nơi Đức Phật chứng đạt Giác Ngộ Tối Thượng; Vườn Nai ở Sarnath, nơi Đức Phật khai giảng bài Thuyết Pháp đầu tiên – Kinh Chuyển Pháp Luân; và Kusinara (Câu Thi Na), nơi Người nhập diệt Đại Bát-Niết-bàn. 

Một Phật tử kính đạo nên thăm viếng những nơi này và tôn nghiêm với một ḷng thành kính, chiêm nghiệm lại những sự kiện đặc biệt xảy ra trong cuộc đời của Đức Phật liên quan đến từng địa danh đó. Từ sau Đại Bát-Niết-bàn của Đức Phật, bốn nơi thiêng liêng của Phật Giáo này đă trở thành những tâm điểm cho những người con Phật mộ đạo hành hương về với t́nh cảm tâm linh. Vào thời Vua A- dục (Asoka), có thêm bốn địa danh nữa được đưa vào danh sách những nơi hành hương, đó là: Savatthi (thành Xá-Vệ), Sankasia, Rajagaha (thành Vương Xá) và Vesali (Tỳ-xá-ly), những nơi này rất gắn liền với cuộc đời của Phật và những cảnh thần diệu đă diễn ra trong lịch sử vào lúc Đức Phật c̣n tại thế. V́ vậy, tổng cộng có 8 Thánh Địa Quan Trọng trong lịch tŕnh hành hương trên đất Phật.

Mục đích của quyển sách này là chia sẻ với quư Phật tử và những đạo hữu những kinh nghiệm và kiến thức thu góp được của tôi về những lợi ích trong việc thực hiện một chuyến hành hương chiêm bái Tám Thánh Địa thiêng liêng với ḷng thành và thái độ tinh thần đúng mực. Theo Phật Giáo, việc thực hiện một chuyến hành hương đóng một vai tṛ quan trọng cho những tiến bộ về mặt tâm linh của mỗi người. vậy, đối với một người đang ư định hành hương, điều cốt lơi cần phải hiểu rơ là cuộc hành hương là một chuyến đi tâm linh với ḷng thành kính hướng về Đức Thế Tôn. Ḷng thành kính này sẽ làm trong sạch và thanh tịnh những suy nghĩ, lời nói và hành vi của mỗi người và thông qua đó, nhiều phẩm hạnh cao đẹp sẽ được phát triển trong tâm ḿnh. 

PHẦN ĐẦU nói về ư nghĩa của phương diện tinh thần một số khía cạnh của tâm của một cuộc hành hương. Phần này trước đây nằm trong Phần IV của quyển sách. Phần IV được tách ra sau để quư độc giả dễ dàng đọc lại và tra cứu thông tin về các di tích hành hương khi đang đi hành hương. 

Phần I & II hai phần chính của quyển sách, giới thiệu lại lịch sử và những ư nghĩa tôn giáo của từng thánh tích trong Tám Thánh Địa Quan Trọng và những nơi thuộc những thánh địa đó cần được viếng thăm, và những chi tiết thú vị của từng nơi có thể t́m thấy ở đây. 

Phần III mô tả những đền tháp quan trọng khác, bên ngoài Tám thánh địa đă nói, mà trên đường đi hành hương chúng ta thể ghé lại thăm viếng nếu được thêm ít nhiều thời gian ngoài chương tŕnh. Một ví dụ như ở Sanchi. Mặc dù bản thân Đức Phật đă không đến Sanchi, nhưng địa danh này đă trở thành một trung tâm Phật giáo quan trọng, bởi v́ những di tích và xá lợi của những vị Đại Đệ Tử và những A-la-hán đă được phát hiện ở nơi này. Đó là những người tổ chức Hội Đồng Kết tập Kinh Điển Phật giáo lần thứ Ba và sau đó đă đảm nhiệm những sứ mạng ra đi truyền bá Phật Pháp ra ngoài biên giới Ấn Độ. 

Đó là một trong những điều may mắn kỳ diệu để Phật Pháp vẫn c̣n được giữ nguyên vẹn sau khi Ấn Độ và nền Phật giáo Ấn Độ bị tàn phá đến diệt vong bởi những người Hồi giáo vào thế kỷ 12. Sự thật, Ngài Mahinda, con của vua Asoka, người đă thiết lập nên Phật Pháp (Buddha Sasana) ở Tích Lan đă lại 1 tháng tại 1 tu viện do người mẹ của ḿnh xây dựng Sanchi trước khi lên đường xuất dương qua Tích Lan để thực hiện Sứ mạng truyền Pháp cao cả của ḿnh. Một công hạnh mà thế giới Phật Tử sẽ không bao giờ quên. 

Hội Đồng Kết tập Kinh Điển lần thứ Ba được tổ chức vào khoảng năm 250 trước CN ở Pataliputta (Patna, Hoa Thị Thành) do HT. Moggaliputta Tissa (Mục-Kiền-Liên Tử Đế Tu) chủ tŕ và sau đó đă gửi những giáo đoàn truyền bá Phật Pháp đi nhiều phương khác nhau Ấn Độ, Tích Lan, Miến Điện. Nhờ vào tầm nh́n xa và trí tuệ của Ngài HT. Moggaliputta Tissa, đến khi Phật giáo Ấn Độ bị diệt vong bởi những đạo quân Hồi giáo cuồng tín vào thế kỷ 12, th́ ánh sang Phật Pháp vẫn chiếu ngời ở Tích Lan, Miến Điện những nước Phật giáo nguyên thủy đến tận hôm nay. 

Ngày nay, chúng ta đă và đang chứng kiến những tu sĩ từ những nước Phật giáo lại quay về Ấn độ để làm sống lại nền Phật giáo tại chính cái nôi của Phật Pháp sasana!. Những người hành hương cũng nên dừng lại Patna để ghé thăm vườn Kumhra Park, nơi được tin là di tích của Asokarama, một đại tịnh xá do vua Asoka xây dựng, là nơi diễn ra Hội đồng Kết tập Kinh Điển lần thứ Ba.

Phần I trong lần xuất bản trước, nay được dời ra thành Phần IV của quyển sách này. Mục đích là dành cho độc giả và những người hành hương có thể t́m nhanh đến các trang nói về các di tích trong các Phần I, II & III, để dễ dàng tra cứu thông tin trước khi hay ngay khi đang viếng thăm một di tích nào đó!. 

Phần IV giới thiệu về những con người gắn liền với lịch sử thăng trầm của nền Phật giáo và những Phật tích ở quê hương của Phật trong mấy ngàn năm qua. (a) Một quyển sách hướng dẫn về hành hương sẽ thật sự là thiếu sót nếu không nhắc lại những nhà hành hương lỗi lạc ngày xưa, như là: Vua A-dục (Asoka), những nhà chiêm bái Trung Hoa. Ḷng thành tín và sự chịu đựng gian khổ kiên cường của các ngài là những niềm cảm hứng lớn lao cho những người con như chúng ta tiếp bước hành hương trong thời đại phương tiện di chuyển dễ dàng hơn nhiều. (c) Sự xuống dốc của Đạo Phật do bị xâm lược ở Ấn Độ và sự tàn phá những đền chùa Phật giáo vào thế kỷ thứ 13, nối tiếp 6 thế kỷ liên tục ch́m trong quên lăng, thời kỳ đen tối nhất của Phật giáo, cũng được nhắc lại trong quyển sách này khi giải thích về những tàn tích thánh địa. Cuối cùng, (d) việc khôi phục những nơi thiêng liêng của Phật giáo và việc làm sống lại nền Phật giáo ở Ấn Độ được miêu tả vắn tắt lại để độc giả có thể tôn vinh những nỗ lực của những con người cao quư đă dâng hiến cả cuộc đời ḿnh vào việc khôi phục những thánh tích thiêng liêng. Đặc biệt, chúng ta măi luôn ghi nhớ công hạnh và những đóng góp vô giá của bốn nhà tiên phong lỗi lạc, đó là : Ngài Alexander Cunningham, Tỳ kheo Anagarika Dharmapala,

Tỳ kheo Sayadaw U Chandramani của Kushinagar, và Tiến Sĩ Babasaheb Ambedkar. 

PHẦN V cung cấp những Thông tin về chuyến đi hành hương ṿng quanh ‘miền’ Phật giáo nối liền những thánh địa, Khoảng cách giữa các địa danh bằng đường lộ và những Bản đồ chỉ rơ những vị trí địa lư của những thánh địa Phật giáo đó. 

Hy vọng quyển sách này sẽ mang lại nhiều điều hữu ích cho quư độc giả, những người đang ôm ấp ư định thực hiện một cuộc hành hương trong đời về xứ Phật và những người muốn động viên nhiều Phật tử cố gắng thu xếp một cuộc hành hương của ḷng thành, tất cả đều đạt được nhiều ích lợi và hạnh phúc viên măn trong chuyến đi.  

 

LỜI CẢM TẠ 

Một lần nữa, tôi muốn nói lời cảm tạ đến Wooi Kheng Choo thuộc Hội Phật Giáo Subang Jaya đă duyệt đọc lại bản thảo, giúp hiệu chỉnh những lỗi chính tả góp nhiều ư kiến hữu ích. Tôi cũng tri ân sự giúp đỡ tận t́nh của anh Tey Seng Heng, người đồng nghiệp của tôi ở Cty nghiên Cứu Nông Nghiệp Ứng Dụng, trong công việc vi tính. Tôi cũng cảm ơn nhưng người sau đây, đă giúp chúng tôi thực hiện những chuyến hành hương thành công và đáng nhớ, đó là những người cố vấn tâm linh của chúng tôi:

TT. Sayadaw U Jnanapurnik Nepal vào năm 1991;

TT. Saranankara Sentul vào năm 1997;

TT. Sayadaw U Rewata Myanmar vào năm 1997, 1999, 2001; Ni Sư Uppalavanna ở Nepal vào năm 1991;

Những người cùng dẫn các đoàn:

BS. Wong Wai Cheong & Chị Flora Tan vào năm 1991;

Chị Helen Too, các đạo hữu: Bro. Chan Weng Poh, Bro. Wong Fok Gee, Bro. Yap Pak Choong & Bro. Lam Cheok Yew năm 1997;

Chị Wooi Kheng Choo, đạo hữu Bro. Teh Kok Lai & Chị Kieu Choon Lai năm 1999;

Chị Tan Lei Hong & đạo hữu Bro. Chiu Sheng Bin năm 2001. 

Tôi cũng nhân cơ hội này cảm ơn tất cả thành viên của những nhóm Hành Hương từ năm 1991-2012 nhờ vào sự cộng tác và ủng hộ của họ mà những chuyến đi đă suông sẻ và đầy hoan hỉ. Cuối cùng, nhưng thật quan trọng, tôi muốn gửi lời cảm ơn tấm ḷng hào hiệp của những nhà tài trợ đă đóng góp bằng tiền và những trang thiết bị cần thiết và cúng dường cho các chùa, đền những nơi thiêng liêng trong suốt hành tŕnh của những chuyến hành hương. 

 

LỜI SÁM HỐI 

Trong suốt những chuyến đi kéo dài 2 tuần mỗi chuyến, vài lần không tránh khỏi đối với những người hành hương, cũng như tác giả, rơi vào những lúc lơ đăng, thiếu chánh niệm và đă phạm một số lỗi từ thân, ư, miệng đối với những người Thầy đi theo và đối với những người đồng hành với nhau.

Thay mặt cho tất cả, tác giả xin phép nhân cơ hội này có lời xin được khoan dung từ những vị Thầy hướng dẫn tâm linh và những bạn đồng hành với nhau. 

 

CÙNG HOAN HỈ VÀ HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC 

Nguyện cho công đức của Pháp thí này được hồi hướng đến cho những người thân quyến thuộc, bạn hữu tất cả chúng sinh. 

Sadhu! Sadhu! Sadhu!

Lành Thay! Lành thay! Lành Thay! 

Klang, 2002 & 2009

Chan Khoon San


 

LỜI TỰA BỔ SUNG

(lần tái bản thứ ba) 

 

Đây là ấn bản lần thứ ba của quyển “Hướng Dẫn Hành Hương về Xứ Phật” kể từ lần phát hành đầu tiên vào năm 2002. Với trang b́a mới, thêm nhiều đề tài nội dung và thêm những thông tin mới về những thánh tích được bổ sung, cập nhật so với những lần phát hành trước đây. Ví dụ như lỗi sai trong thông tin về di tích Đền Matha Kuar ở Kushinagar này đă được chỉnh sửa lại. 

Kể từ năm 2002, tác giả đă liên tục viếng thăm lại nhiều lần ‘miền’ thánh địa Phật giáo và đă đi đến nhiều khu di tích phật giáo mới, nổi bật là nơi di tích Bảo Tháp Ananda Stupa ở Hajipur; Pava gần Kusinara; Lauriya Nandangarh ở phía Bắc Bihar; Kosambi ở Allahabad; Ramagama và Devadaha ở Nepal; Sanchi ở Madhya Pradesh; Những Hang Động Ajanta Caves ở Ajanta; và Diksha Bhumi ở Nagpur, Maharashtra. 

Và một cơ duyên đến tác giả đă chợt nghe được thông tin về di vật thiêng liêng b́nh bát của Đức Phật vẫn c̣n ở Afghanistan đă khiến tác giả bỏ nhiều thời gian thực hiện việc sưu tầm, nghiên cứu để xem hiện b́nh bát đang lưu lạc phương nào kể từ khi Đức Phật ban tặng cho những người bộ tộc Licchavi ở Vashaili trước khi Bát-Niết-Bàn (Parinibbana) của Người. Chúng ta có thể t́m hiểu những điều xảy ra đối với b́nh bát thiêng liêng trong phần “Hành Tŕnh Của B́nh Bát Của Đức Phật” trong Phần III, 5). 

Trong phần những h́nh ảnh, tác giả đă gửi vào thêm một số h́nh ảnh các Phật tích ở miền Bắc Pakistan. Cho dù ánh sáng Phật Pháp đă không c̣n được chiếu sáng ở đất nước này, nhưng Pakistan vẫn c̣n những di tích Phật giáo đẹp nhất từ thời hoàng kim của nó. Đáng buồn thay, nhiều Phật tích thiêng liêng đă bị bắn phá bởi những quân lính Talibans Thung Lũng Swat vào năm 2007, chẳng hạn trong đó những tác phẩm vô giá như đại h́nh tượng Phật ở Jehanabad được khắc sâu vào núi đá và những bức tượng thuộc nghệ thuật Gandhara ở viện Bảo Tàng Swat Museum. 

Klang, 2011

Chan Khoon San


 

VỀ TÁC GIẢ 

Đạo hữu Bro. Chan Khoon San sinh ngày 8 tháng Tám, 1941 ở Penang, Malaysia. Sau khi học xong Đệ Lục hồi đó, ông đă học Trường Đại Học Sư Phạm Mă-Lai-Á (Malayan Teachers College) ở Brinsford Lodge, Anh Quốc. Sau khi tốt nghiệp, ông trở về quê hương dạy học trong một thời gian ngắn từ năm 1964 đến 1967. Năm 1968, ông vào học trường Đại Học University of Malaya và tốt nghiệp bằng Cử Nhân Danh Dự ngành Hóa Học vào năm 1971. Từ năm 1971 cho đến khi nghỉ hưu năm 1996, ông làm việc trong ngành nghiên cứu nông nghiệp dầu cọ, như là một Nhà nghiên cứu hóa nông thâm niên. 

Sau khi nghỉ hưu, đạo hữu Bro. Chan đi Miến điện Myanmar để tu học thiền Minh Sát Tuệ Tứ Niệm Xứ (Satipatthana Vipassana) dưới sự dẫn dắt của thiền sư Sayadaw Bhaddanta Janakabhivamsa ở Trung Tâm Thiền Học Chanmyay Yeiktha, thủ đô Yangon. Kể từ sau đó, hàng năm ông đều đến tu học và thực hành thiền Minh Sát Tuệ đă 15 năm tại Miến Điện dưới sự dẫn dắt của nhiều vị Thiền sư khác nhau ở thiền viện Chanmyay Yeiktha ở Hmawbi, Miến Điện. 

Bro. Chan đă viết những quyển sách rất nổi tiếng về Phật học, như là: Giáo Tŕnh Phật Học (Buddhism Course), sắp sửa xuất bản bằng tiếng Việt và quyển Hướng Dẫn Hành Hương Về Xứ Phật (Buddhist Pilgrimage), mà quư độc giả đang cầm trên tay. Từ năm 1991 cho đến 2011 khi quyển sách này được dịch ra tiếng Việt và ấn hành, tác giả đă tổ chức 14 chuyến hành hương đích thân đến Ấn Độ để thăm viếng tất cả những nơi thánh địa quan trọng của Phật giáo, cùng với rất nhiều cao Tăng Ni đến từ nhiều nước Phật giáo khác nhau như Miến Điện, Malaysia. 

“Trong một bức thư điện tử (email ngày 16 tháng 9, năm 2011) ông gửi cho tôi (người dịch) để cập nhật những lần hành hương của ông, trong lúc tôi đang biên dịch quyển sách này, ông đă tâm t́nh rằng: 

“Tôi luôn trông đợi những chuyến đi thăm viếng những nơi gắn liền với Đức Phật của chúng ta và cũng để hâm nóng t́nh đạo hữu, thầy tṛ với những vị Tăng Ni ở nhiều tu viện, chùa chiền khác nhau ở những nơi thánh địa. Thứ hai, tôi tổ chức những đoàn hành hương về xứ Phật để cho những Phật tử hành hương được lợi lạc trong việc thanh lọc thân tâm cùng với sự tăng trưởng ḷng tin và ḷng thành kính đối với Phật, Pháp và Tăng.” 

Ông thường xuyên từ bi trao đổi những thông tin và kinh sách Phật học với người dịch. Ông đă giúp người dịch thật nhiều về bản quyền, chỉnh sửa, cập nhật thông tin và những CD h́nh ảnh gốc chụp những thánh tích vô cùng quư giá mà ông đă công phu thực hiện và chọn lại trong suốt gần 20 năm hành hương qua - ND”. 

Hiện nay ông làm cố vấn hóa nông bán thời gian cho những nghiên cứu nông nghiệp ở Malaysia. Phần thời gian c̣n lại ông nghiên cứu và giảng dạy Kinh tạng tại nhiều Hội Phật giáo ở Thung lũng Klang, Malaysia, viết luận giảng, sách và xuất bản sách về Phật học. 

Tác giả là một cư sĩ nghiên cứu Phật học, một thiền giả, người tâm nguyện cao đẹp một tấm gương đáng kính đáng được tri ân trong sự nghiệp truyền Phật Pháp.

 

LỜI NGƯỜI DỊCH 

Tôi không biết bắt đầu bằng câu nào, về tác giả, về thánh địa, hay những điều đă chưa từng biết trước khi đọc quyển sách này. Chỉ có một điều là, không hiểu v́ sao, sau khi đọc xong, tôi cũng muốn tất cả các bạn và những người con đáng mến của Đức Phật cũng đọc được quyển sách này. 

Tác giả đă bỏ ra nhiều thời gian và những chuyến đi để viết quyển sách này từ năm 2001, như một món quà tặng cho mọi người quan tâm đến Phật giáo. từ đó đến nay, ông đă luôn tiếp tục lên đường và thường xuyên cập nhật thông tin để hiệu chỉnh, bổ sung cho quyển sách của lần ấn bản này. Trong suốt thời gian biên dịch, tôi mới cảm thụ được rằng tác giả đă luôn luôn xúc động khi ông viết về từng mỗi Phật tích, hay mỗi khi t́m thêm được những chi tiết lịch sử về thánh tích đó, như ông đă từng tâm t́nh với tôi. 

Một quyển sách viết về một cuộc hành hương đến xứ Phật, nhưng một lần đọc qua, bạn sẽ ngỡ ngàng như tác giả đă đọc giùm chúng ta rất nhiều tàng thư kinh điển đồ sộ. Bạn sẽ có cảm giác như ḿnh vừa đọc hết lịch sử thời Vua Asoka, mười mấy tập Đại Đường Tây Vực Kư của ngài Huyền Trang, hay Kư Sự Phật Quốc của ngài Pháp Hiển, và rất nhiều những nghiên cứu của nhiều thế hệ tiên phong lỗi lạc sau này. Những ghi chép và sự kiện của tất cả họ trong hơn 20 thế kỷ cứ như đan quyện vào nhau trong cùng một câu chuyện hành hương đầy thăng trầm và lăng mạn. 

Đầu tiên, theo lời khuyên dạy của Đức Phật trước khi Người từ giă trần gian, những nơi hành hương quan trọng nhất là Bốn Thánh Địa (Tứ Động Tâm) là nơi sinh, nơi giác ngộ, nơi khai giảng giáo Pháp và nơi Bát-Niết-bàn của Đức Phật. Vua Asoka người hiểu được ư nghĩa những thánh địa là gắn liền với cuộc đời Đức Phật và ngài đă triển khai thêm bốn thánh địa khác, đó là những nơi gắn liền với cuộc đời Đức Phật du hành thuyết giảng giáo lư, đó là Savatthi, Sankasia, Rajagaha và Vesali. 

Như vậy, tổng cộng Tám Thánh Địa Quan Trọng với gần 100 thánh tích những nơi đáng dừng chân thăm viếng khác trên đường hành hương. 

Trong ấn bản thứ ba, sau nhiều năm tự thân hành hương và gặp gỡ với những người bạn là những Tăng, Ni ở Miền Phật giáo, tác giả đă t́m thấy được thêm nhiều sử tích, sử liệu và di tích gắn liền cuộc đời những bậc A-la-hán đại đệ tử của Phật, về những nhà vua, hoàng hậu, hoàng tử, công chúa Phật giáo, và những thí chủ cúng dường cao thượng ngày xưa và gần đây. Tác giả là một nhà biên tập rất kiên nhẫn. Về ấn bản thứ ba này, ông mất gần một năm để biên tập lại quyển sách. 

Khi bạn đi hành hương, quyển sách này sẽ trở thành một trong những Cẩm Nang hướng dẫn trong tay ḿnh. Bạn sẽ lần lượt viếng thăm từng khu hay vùng thánh địa sẽ chiêm bái những di tích trong từng thánh địa trong 1 hay 2 ngày. Khi nghỉ đêm, bạn thể đọc lại những di tích mà hôm sau ḿnh sẽ đến viếng thăm, hoặc trong khi ngồi trên xe buưt, hoặc ngồi nghỉ ngơi trước khi bước đến một di tích khác, bạn cũng có thể vào đọc lại về thông tin thánh tích đó. Điều đó, trong bối cảnh đang hành hương, sẽ làm bạn nhớ măi về thánh tích đó. Bạn sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian, để lo cho việc tôn kính, lễ lạy và chánh niệm đúng như tâm nguyện ban đầu của chuyến đi. 

Nếu bạn đọc đă từng đọc chi tiết về những cuộc hành hương của hai nhà Hành hương Trung Hoa là Pháp Hiển và Huyền Trang, bạn có thể không cần đọc lại các Mục 3, 4, 5 & 6 của Phần IV, trọng tâm của quyển sách này nói về chi tiết lịch sử các Phật tích, di tích, và Lịch tŕnh hành hương, được ghi trong Phần I, II, III & V. Tuy nhiên, đối với những ai chưa đọc những ghi chép của ngài Pháp Hiển và Huyền Trang, th́ cần đọc lại những chuyến đi lịch sử đầy cảm động này. Mục đích của tác giả trích dẫn lại chi tiết của những cuộc hành hương này là v́: 

(1) Để cho đọc giả hiểu được ư chí, công sức và chi tiết hành tŕnh của hai nhà chiêm bái Trung Hoa này, v́ (2) Tác giả muốn cho những độc giả hiểu rằng những lịch sử, Phật tích, thánh tích xưa được ghi chép trong Kinh điển lịch sử đóng góp của Vua Asoka là trùng khớp với những ghi chép của ngài Pháp Hiển Huyền Trang. Và v́ (3), điều quan trọng nhất hầu hết những Phật Tích, thánh tích quan trọng nhất của Ấn Độ được khai quật bởi những nhà khảo cổ đại đều dựa vào những ghi chép của hai nhà hành hương này trong 2 quyển kư sự là: Kư Sự Phật Quốc Kư Sự Tây Vực. Nếu không có hai cuộc hành hương này, và hai quyển kư sự này, ngày nay có thể chúng ta đă không thể nào t́m lại được và khôi phục lại những Phật Tích và thánh tích ngày xưa, vốn đă bị chôn vùi bên dưới đất qua mấy ngàn năm.

Quyển sách cũng kèm theo nhiều h́nh ảnh của từng Phật tích và thánh tích quan trọng mà tác giả cũng đă miệt mài chụp và lựa chọn trong gần 20 năm qua. Trong khi đọc về một di tích nào, các bạn có thể lật ra cuối sách để nh́n h́nh ảnh và có thể h́nh dung ra được cách quyển sách miêu tả về di tích đó. Nếu các bạn chưa đủ duyên để làm một chuyến đi đến Miền Phật giáo, th́ các bạn cũng đă có cảm giác là đă đi được một phần, với sự hiểu biết cùng với những h́nh ảnh minh họa này.  

Một cuộc hành hương về xứ Phật và đến Tám Thánh Địa Quan Trọng này có thể là một trong những quăng thời gian hạnh phúc nhất và măn nguyện nhất trong cuộc đời của một người, và làm cho chúng ta chợt nhận ra ḿnh thật may mắn khi được ngắm nh́n những nơi thiêng liêng cổ kính ngày xưa mà tràn ngập một ḷng thành kính và bâng khuâng không bao giờ tả hết được. 

 Mùa Thu 2011 (PL. 2555)

Kim Kha

Quyển sách này được cố gắng viết để vừa tự học vừa tỏ ḷng biết ơn đến những người thầy ở gần ở xa.

Kính tặng quyển sách này cho các thầy: HT. Thích Thanh Từ

TT. Thích Thông Phương 

Kính tặng thầy Thích Trúc Thông Kim & các thầy từ Thiền Viện Trúc Lâm Đà Lạt đang xây mở thiền viện Trúc Lâm ở Tiền Giang. Các thầy Khế Định, Bảo Tú từ Thiền viện Thường Chiếu đang xây mở thiền viện Trúc Lâm ở Phan Thiết. 

Xin cảm tạ công đức của thầy Thích Trúc Thông Tịnh, người đă đọc lại bản thảo này và góp ư đính chính cho quyển sách.


 

 

 

(I) Những Khía Cạnh Tâm Linh Của Cuộc Hành Hương

1.1    Chuyến Đi Của Niềm Tin & Ḷng Kính Đạo

Đối với đa số Phật tử, việc thực hiện một cuộc hành hương đến những nơi thiêng liêng như Đức Phật đă đề xướng, là một việc làm một-lần-trong-đời. 

Với rất nhiều thời gian, tiền bạc và nỗ lực bỏ ra, điều đó bắt buộc một người đang chuẩn bị hành hương phải hiểu rơ cuộc hành hương là v́ mục đích ǵ, đặc biệt là về khía cạnh tâm linh, bởi v́ về mặt vật chất và di chuyển thông thường đă có một công ty lữ hành chịu trách nhiệm lo chu toàn rồi. 

Một cuộc hành hương là một chuyến đi đến nơi thiêng liêng để thể hiện ḷng thành tâm mộ đạo niềm tin. Trong kinh điển Phật giáo, chữ niềm tin (tín) hay saddha là sự xác tín hay vững tin dựa vào sự hiểu biết chắc chắn của một người đối với Phật, Pháp, Tăng. Nó không phải là một đức tin mù quáng dựa vào những quan điểm sai lệch. Bởi v́ ngu si, vô minh là kẻ dẫn dắt ḿnh đến những tâm niệm trái đạo lư, th́ niềm tin “saddha” là người dẫn dắt ḿnh đến những tâm niệm hợp đạo , bởi v́ niềm tin vững chắc sẽ có vai tṛ làm cho tâm thanh tịnh, như Đức Phật đă dạy. 

vậy, một người hành hương không phải giống như một du khách, đi t́m thú vui tham quan, ngắm cảnh và thưởng thức. Khác với những đối tượng khoái cảm giác quan, những cảnh quan của những nơi thánh địa không hề làm khởi sinh dục vọng, nhưng là điều kiện để những tâm niệm lành mạnh khởi lên trong tâm người hành hương. 

Trước khi từ giă trần gian, Đức Phật đă khuyên chúng ta đi thăm viếng những nơi là: 

Nơi Người đă đản sinh

Nơi Người đă Giác Ngộ thành Đạo

Nơi Người khai giảng Bài Thuyết Pháp Đầu Tiên,

và Nơi Người đă ra đi hay nhập diệt Đại Bát-Niết-bàn 

và chiêm bái những thánh tích bằng những t́nh cảm tôn kính. 

Bằng cách thể hiện ḷng thành sự tôn kính những nơi thánh tích, mọi người có thể thanh lọc ba nghiệp “hành động, suy nghĩ và lời nói” (thân, ư, miệng). Bằng cách này, người hành hương được tăng trưởng đạo hạnh Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp là ba nghiệp quan trọng, cũng là ba chi phần trong Bát Chánh Đạo. 

V́ thế, chúng ta có thể thấy rằng việc hành hương bằng những thái độ tinh thần đúng đắn có thể giúp chúng ta thực hành đúng những Lời Dạy của Đức Phật. Theo như luận sư lỗi lạc Buddhaghosa (ngài Phật Âm):

Cảm thọ tích cực có được khi viếng thăm những thánh tích là sự trỗi dậy và cảm giác thôi thúc về mặt tâm linh (hướng đạo) mà những nơi đó tạo ra”. 

[Ư nói rằng, khi một người thăm viếng những nơi Phật tích thiêng liêng, th́ cảnh quan những nơi đó cùng với những sự xúc động, những suy niệm sẽ làm cho người đó tăng thêm ḷng nhiệt thành về đạo, ḷng thôi thúc tu tâm sửa nghiệp để mau chóng đến ngày giải thoát khỏi đau khổ và những vô thường của thế gian]. (ND) 

Một luận sư khác là ngài Dhammapala giải thích rằng cảm giác thôi thúc về tâm linh có nghĩa là tâm có một tuệ giác là ḿnh phải từ bỏ những điều bất thiện, đó là tuệ giác chánh đạo. 

1.2   Bốn Sở Thành Công 

Giống như hành động trí tuệ đáng khen ngợi (punna kiriya), tiềm năng hành động của mỗi con người phụ thuộc vào mức độ của bốn cơ sở thành công (iddhipada), bốn điều kiện cần có đó là: Mong muốn thực hiện (chanda), Tâm (citta), Nỗ lực (viriya) Trí tuệ (vimansa). Tiềm năng hay kết quả (của một việc, một hành động) có được tốt, trung b́nh hay yếu kém đều phụ thuộc vào bốn cơ sở tương ứng đó có đủ mạnh, trung b́nh hay yếu ớt sơ sài. 

Một Mong muốn, một ư muốn mạnh mẽ thường xuất phát từ ḷng thành của một người trong việc thực hiện một cuộc hành hương hướng theo lời khuyên của Phật. Khi Tâm và ư nguyện đă mạnh mẽ, th́ không có ǵ làm người đó xao lăng ư định và cũng không có trở ngại, gian khó nào của chuyến đi có thể làm nản ḷng người hành hương được. Nỗ lực có nghĩa là nghị lực để thực hiện chuyến đi hành hương, mà những ngày thật xa xưa kia nó có nghĩa là một chuyến đi dài ngh́n trùng xa qua bao nhiêu lục địa, biển lớn và băng qua những sa mạc mịt mùng.

Ngày nay, chúng ta có thể hành tŕnh bằng máy bay và trên những xe buưt có gắn máy lạnh, nhanh hơn và dễ dàng hơn nhiều, tuy nhiên sự Chuẩn bị là điều thật sự không thể thiếu được, đặc biệt là t́m hiểu rơ về ư nghĩa lịch sử và tâm linh của mỗi nơi thánh địa trong lịch tŕnh hành hương. Với sự Hiểu biết này, một người có thể chiêm nghiệm và liên tưởng một nơi thiêng liêng đang viếng thăm với những sự kiện trong cuộc đời của Đức Phật lịch sử, điều đó giúp bạn h́nh dung ra được một bức tranh trong tâm, tạo điều kiện hay duyên làm khởi sinh những tâm niệm lành mạnh và thánh thiện khi chiêm bái thánh tích đó. 

Điều này chỉ đích thực có được về mặt trí tuệ và tâm linh bởi những người đă có chuẩn bị chu đáo cho cuộc hành hương. 

(Bởi v́ có rất nhiều người chỉ tham gia cuộc hành hương v́ sự ṭ ṃ, hay gần như là ‘mê tín’ chỉ v́ nghe đến những nơi được cho là ‘linh thiêng’ th́ đến thăm chỉ đơn thuần là cầu được phúc đức. Điều đó cũng giống như những người đến viếng thăm các Chùa thường xuyên, một số ḷng thành và sự cầu khẩn nào đó, mà chẳng hiểu biết nhiều về ư nghĩa của việc đến viếng Chùa theo đúng giáo pháp). (ND) 

Tất cả những yếu tố cơ sở thành công này đều đă được trang bị trong tim của những nhà hành hương Trung Hoa ngày trước như ngài Pháp Hiển (Fa Hsien), Huyền Trang (Hsüan Tsang), Nghĩa Tịnh (I-Ching) và nhiều người khác khi họ lên đường hành hương sang Ấn Độ cách đây mười mấy thế kỷ.


 
1.3    Tăng Trưởng 10 Điều Hoàn Thiện (Ba-la-mật / Parami) 

Khía cạnh thứ hai của một cuộc hành hương đó là hành động buông bỏ, nghĩa là người hành hương nên từ bỏ những nhu cầu hay tham dục xa xỉ, và nên hài ḷng với những tiện nghi, xe cộ thức ăn đơn giản, thanh tịnh. Tâm niệm không tham dục giúp cho người hành hương chịu đựng được những bất tiện và vất vả bằng ḷng nhẫn nại và từ bi, mà không hề phàn nàn, than văn. 

Trong thời gian thăm viếng một thánh tích, người hành hương cảm thấy ḿnh đang ở nơi có sự hiện diện của Đức Bổn Sư và chính niềm tin miên mật này sẽ mang lại ḷng hoan hỉ và sự tuân giữ giới hạnh, vốn là nền tảng của công đức. 

Nhiều người c̣n thực hành bố thí (đàn-na), cúng dường cho những Tăng Ni để tỏ ḷng kính trọng biết ơn đối với những thầy đă chăm sóc và giữ ǵn những nơi thiêng liêng. 

Những thánh tích này cũng là những nơi mà những người hành hương quán chiếu về những công hạnh của Đức Phật thực hành chánh niệm nhằm phát triển và trí tuệ. Có nhiều cách thực hành công hạnh khác nhau để một người thể hiện ḷng thành kính ở những thánh tích hay bảo tháp (cetiyas) bên cạnh những nghi thức thông thường như dâng hoa, cúng đèn, thắp hương, và vái lạy trong nghi lễ cúng đường (puja). 

Trong quá tŕnh hành hương, trong một người có thể khởi sinh nhiều thiện tâm, làm cho ḿnh trở nên tốt đẹp và cao thượng hơn, vậy sẽ tạo ra nhiều thiện nghiệp tốt đẹp hơn (kusala kamma). Thật vậy, người hành hương có thể phát triển những Điều Hoàn Thiện hay Ba-la-mật (Paramis) và tích nhiều công đức trong chuyến hành hương bằng ḷng thành. 

Nhưng điều đó không nên được kết thúc sau khi kết thúc chuyến hành hương và trở về nhà, mà bạn phải luôn luôn cố gắng hồi tưởng hay chánh niệm lại trong trí nhớ những khoảnh khắc đầy hoan hỉ và khó diễn tả ḿnh đă trải qua ở những nơi thiêng liêng của Phật, và giữ cho những kỉ niệm đó luôn luôn sống động trong kư ức của mỗi người. Sự hồi tưởng đó lại khởi sinh ra niệm hỉ lạc hạnh phúc mới và là phương tiện thiện xảo để củng cố những thiện nghiệp mà ḿnh đă tích cóp được trong chuyến hành hương. 

Về sau, vào những lúc bệnh tật, lo sợ hay buồn đau trong cuộc đời ḿnh, bạn sẽ có thể dễ dàng xua tan đi những phiền năo đó bằng cách t́m niềm vui thanh tịnh trong việc nhớ lại những hành vi tốt đẹp nghiệp tốt trong chuyến hành hương.  

1.4     Hội Ái Hữu Phật Giáo hay Hội Đạo Hữu Đồng Hành 

Hội ái hữu có nghĩa là nhóm người hay cộng đồng cùng mục đích thường xuyên họp mặt, chia sẻ những trách nhiệm và giúp đỡ lẫn nhau trong mối quan hệ và t́nh cảm bạn hữu. Khía cạnh ư nghĩa của Hội Ái Hữu Phật giáo hay đạo hữu Phật giáo cũng rất quan trọng trong việc khuyến khích và giúp đỡ của những người khác thực hành những Lời Dạy của Đức Phật và củng cố niềm tin của chúng ta vào những lúc bắt đầu tu tập và những lần khổ sở trong cuộc đời.

Một cuộc hành hương theo một nhóm hay một đoàn đến Tám Thánh Địa Quan Trọng là cách tốt nhất để gieo trồng mối quan hệ đạo hữu Phật giáo. Trải qua 2 tuần, hoặc hơn nữa, của một cuộc hành hương, những người trong nhóm hành hương đều có những cơ hội giao tiếp gần gũi với nhau và quen biết nhau trong những không khí của ḷng từ bi, ḷng hoan hỉ, hào hiệp ḷng thành tín ngưỡng. 

Mối quan hệ gắn bó của t́nh đồng đạo được h́nh thành trong lúc cùng nhau thực hiện những đạo hạnh sẽ c̣n măi sau chuyến hành hương và những người hành hương sẽ luôn nâng niu những kỷ niệm đáng quư đó mỗi khi hồi tưởng lại những khoảnh khắc ḿnh trải qua ở những nơi chiêm bái. Một chuyến đi hành hương đến Tám Thánh Địa Quan Trọng cùng với những đạo hữu, đoàn kết bằng niềm tin ḷng mộ đạo thật sự là t́nh ái hữu Phật giáo và là cách tuyệt vời nhất để phát huy t́nh bạn hữu giữa mọi người. 

 

1.5    Khởi Sinh Sự Thúc Giục Về Mặt Tâm Linh Trong Chuyến Hành Hương

Theo những ghi chép của Kinh Điển, Bốn Thánh Địa Hành Hương (Tứ Động Tâm), được gọi là Samvejaniya- thana, có nghĩa là những nơi sẽ làm khởi sinh trong ḷng ư thức sự động tâm về bản chất Vô Thường của vạn vật.

vậy, những người hành hương khéo tâm sẽ t́m thấy cơ hội trong chuyến hành hương làm tăng thêm niềm Thúc Giục về mặt tâm linh (samvega) bằng cách quán chiếu những lời dạy cuối cùng của Đức Phật trước khi người nhập diệt Bát-Niết-Bàn:

Này các Tỳ kheo, bây giờ ta nói với các thầy: Tất cả các pháp hữu vi đều thường. Hăy nỗ lực tinh tấn (tu hành) để đạt được mục tiêu (giải thoát) của ḿnh”.

(Trích Kinh Đại Bát-Niết-Bàn)

Bốn thánh địa đă từng là những trung tâm gắn liền với cuộc đời của Đức Phật, với Giáo Pháp (Dhamma) và những Tỳ kheo A-la-hán (Arahant) nổi tiếng của Tăng Đoàn (Sangha). 

Hẳn chúng ta đă từng ít nhiều đọc hay nghe về những sự kiện Đức Phật Đản Sinh ở Lumbini, Đức Phật Thành Đạo ở Buddhagaya (Bồ Đề Đạo Tràng), Đức Phật khai giảng Bài Pháp Đầu Tiên ở Isipatana (Vườn Nai), và Đức Phật Bát- Niết-Bàn ở Kusinara. 

Ngày nay, Phật và những vị A-la-hán đầu tiên không c̣n ở đó nữa, cũng v́ một lẽ thật là ngay cả Đức Phật và những A-la-hán lỗi lạc đó cũng không vượt qua quy luật thế gian “sinh, lăo, bệnh, tử”. Lẽ thật là thế giới của tất cả chúng sinh (satta-loka) không bao giờ thường hằng mà phụ thuộc vào sự biến đổi theo Quy Luật Vô Thường. Chỉ cần đến nh́n thánh địa chiêm nghiệm lại điều này, chúng ta không khỏi có cảm giác “nôn nao”, “thúc bách” về tâm linh (samvega) trong ḷng ḿnh về việc nổ lực tu tập con đường Bát Chánh Đạo để mau dẫn đến Niết-Bàn Nibbana, chấm dứt mọi khổ đau của sinh tử. 

Sau khi Bát-Niết-Bàn của Đức Phật, những người kính đạo khắp Ấn Độ đă xây nhiều bảo tháp (stupa) và tu viện (vihara) để tưởng niệm những sự kiện quan trọng trong cuôc đời Đức Phật và Phật Pháp ở những nơi này. 

Như chúng ta đă đọc, lịch sử có đến 84.000 bảo tháp (stupas) được xây dựng bởi vua Asoka để tôn kính và tưởng niệm 84.000 lợi thuộc về (hay liên quan đến) Phật những bậc A-la-hán. Những xá lợi này c̣n được gọi là những Pháp-uẩn (Dhamma-khandas), cùng với những công tŕnh tưởng niệm khác được xây bởi những vị vua Phật tử thuộc những triều đại khác nhau sau này. 

Hôm nay, những người hành hương phải đi qua những khoảng cách dài trên những con đường xấu khó đi để đi đến của những vùng xa xôi của miền Bắc Ấn Độ chỉ để chứng kiến những di tích đổ nát điêu tàn của những đền tháp huy hoàng một thời hoàng kim xa xưa đă bị phá hủy, thậm chí đă bị tiêu hủy. 

Cho dù những ư đồ, ư nguyện hay tâm lư chung của người xưa là xây đền, tháp to lớn, kiên cố để tưởng niệm trường cửu, để ‘trừ hao’ thời gian và khả năng bị con người phá hoại (ví dụ rơ ràng nhất là những Trụ Đá Asoka uy nghi bằng đá cứng gần như khó bị hư hoại hay bị phá hoại). Tuy nhiên, bất chấp những ư đồ đó, hầu hết tất cả những công tŕnh tưởng niệm đó đều đă bị tan hoại bị tàn phá theo thời gian: Không có cái ǵ là tồn tại măi măi được. 

V́ vậy, chúng ta ư thức được rằng thế giới hữu vi (sankhara-loka) thế giới tự nhiên (okasa-loka) không bao giờ thường hằng mà biến đổi theo quy luật Vô Thường. Ư thức này có thể là một trong cảm xúc trong nghĩa “động tâm”, làm cho kẻ hành hương cảm giác nôn nao khó tả, như một sự thúc giục tâm linh về một kiếp người ngắn ngủi, về sự cấp bách thực hành Chánh Đạo để mau có ngày giải thoát.

 

(II) Tám Thánh Địa Quan Trọng Của Cuộc Hành Hương 

Để đáp lại sự lo lắng của ngài Ananda rằng những Tỳ kheo sẽ không c̣n cơ hội để gặp và đảnh lễ Đức Phật sau Đại Bát-Niết-bàn của Người, Phật đă đề cập đến bốn thánh địa mà những Phật tử mộ đạo nên viếng thăm và tỏ ḷng tôn kính. (Giới Phật tử Trung Hoa và Việt Nam thường hay gọi bốn nơi đó là Tứ Động Tâm). Bốn (4) nơi đó là: 

(1)    Lumbini: “Đây là nơi Như Lai đă đản sinh. Nơi này, này Ananda, là nơi một người kính đạo nên viếng thăm và chiêm bái với ḷng thành kính. 

(2)    Buddhagaya (Bồ-Đề Đạo Tràng): “Nơi đây Như Lai đă giác ngộ viên măn, Vô Thượng Chánh Đẳng Giác!. Nơi này, này Ananda, là nơi một người kính đạo nên viếng thăm và chiêm bái với ḷng thành kính”. 

(3)      Sarnath (Vườn Lộc Uyển): “Nơi đây Như Lai đă dịch chuyển Bánh Xe Giáo Pháp!. Nơi này, này Ananda, là nơi một người kính đạo nên viếng thăm và chiêm bái với ḷng thành kính”. 

(4)    Kusinara (Câu Thi Na): “Nơi đây, Như Lai đă nhập diệt Niết-bàn, nơi mà những uẩn dính chấp không c̣n khởi sinh ! Nơi này, này Ananda, là nơi một người kính đạo nên viếng thăm và chiêm bái với ḷng thành kính.

Và, này Ananda, nếu bất kỳ ai bị thiệt mạng trong một chuyến hành hương như vậy, với niềm tin sâu sắc trong ḷng, th́ khi thân hoại, sau khi chết, người ấy sẽ được tái sinh về một cơi trời hạnh phúc”. 

(Trích Kinh “Đại Bát-Niết-bàn”)  

C̣n Bốn thánh địa khác cũng là những nơi được thánh hóa bởi Đức Phật và những cảnh tượng kỳ diệu đă xảy ra, đó là: 

(5)    Savatthi (Xá-Vệ), nơi Đức Phật dùng hai phép Thần Thông để hàng phục lục sư ngoại đạo. Sau đó, Phật xuất hành lên cơi trời Đao-Lợi (Tavatimsa) để thuyết giảng Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) cho mẹ của Người. 

(6)    Sankasia, nơi Đức Phật hạ thế xuống lại trần gian từ cơi trời Đao-Lợi (Tavatimsa), tháp tùng bởi Phạm Thiên (Brahma) và Vua trời Đế-thích (Sakka), sau khi Phật đă thuyết giảng Vi Diệu Pháp cho mẹ của Người và những vị Trời, Thần trong 3 tháng). 

(7)    Rajagaha (Vương Xá), nơi Đức Phật thuần phục con Voi Say. 

(8)     Vesali (Tỳ-xá-ly), nơi đàn khỉ đào một ao nước cho Đức Phật dùng và cúng dường lên Đức Phật một bát mật ong. 

Tổng cộng: chúng ta có 8 địa danh quan trọng phải thăm viếng trong cuộc hành hương.

Trong 8 địa danh đó, 7 địa danh thuộc Ấn Độ ngày nay và 1 nơi là Lumbini, nơi Đức Phật đản sinh, là thuộc nước Nepal, gần biên giới Ấn Độ. 

Theo ghi chép trong quyển “Luận Giảng Bộ Phật Sử” (Buddhavamsa Commentary, trang 188, 428), đối với tất cả chư Phật, có 4 nơi thánh tích là không hề thay đổi và không thể làm thay đổi được, đó là: 

(a) Nơi Đức Phật ngồi thiền để đạt Giác Ngộ (Bodhi pallanka: chiếc Trường Kỷ Bồ-Đề) ở Bodhgaya (Bồ-Đề Đạo Tràng).

(b) Nơi Đức Phật chuyển bánh xe Giáo Pháp tại Vườn Nai (Lộc Uyển), Isipatana, Sarnath.

(c) Nơi Phật đặt bước chân đầu tiên cổng thành Sankasia sau khi trở về trái đất từ cơi trời Đao-Lợi.

(d) Nơi đặt bốn chân giường trong đền Gandhatuki (Hương Thất) ở tu viện Kỳ Viên Jetavana, Savatthi (Xá-vệ). 

Vậy, Bốn nơi không để đổi dời của chư Phật cũng nằm trong Tám Thánh Địa Quan Trọng của cuộc hành hương.  

± Chú thích: 

Tên của một số nơi được ghi chép trong kinh điển Pali hiện nay đă bị thay đổi ở Ấn Độ. Tên hiện nay của những nơi đó được ghi trong dấu ngoặc (...) là như sau: 

Buddhagaya (Bodhgaya), Kusinara (Kushinagar),

Rajagaha (Rajgir), Savatthi (Sravasti), và Vesali (Vaishali). 

 

1.1 Thái Độ Tinh Thần Khi Bước Vào Những Thánh Tích 

Một điều quan trọng cần nhắc nhở chúng ta, những người hành hương đến đây là để tưởng niệm và tôn kính Đức Phật. V́ vậy, khi chúng ta đến những di tích thiêng liêng, chúng ta cần giữ thái độ kính trọng một cách đúng mực và phù hợp. 

Đức Phật được gọi là vị “Vua của giáo pháp” hay một Pháp Vương (Dhamma-raja) và khi chúng ta bước vào những nơi tưởng niệm người, chúng ta đang đảnh lễ trước sự có mặt của một vị “Vua” mà chúng ta tôn kính. 

Người hành hương đến thánh tích không nên chụp h́nh lia lịa, đi lại lăng xăng, giải thích nhau hay nói nhau ríu rít và cũng không nên có thái độ như là khách du lịch tham quan, t́m hiểu bằng sự ṭ ṃ hay t́m hiểu quang cảnh. 

Thay v́ vậy, người hành hương nên giữ cho các giác quan (căn) b́nh lặng và trầm tĩnh. Người hành hương chiêm bái nên đi một cách chánh niệm, đầu hơi nghiêng xuống và hai tay chấp h́nh búp sen để tạo sự trang trọng và tập trung niệm về những đức hạnh của Phật (niệm Phật). Khi bước vào nơi thờ cúng, chánh điện, bảo tháp…, người chiêm bái nên giữ thái độ như đang bước vào đảnh lễ trước mặt Đức Phật, sau đó thực hiện những nghi thức cúng đường (puja), lễ lạy niệm tâm nương tựa vào Tam Bảo bằng cách đọc hay tâm nguyện giữ Ngũ Giới hay Bát Giới và tụng niệm về Phật, Pháp, Tăng.

Bằng cách thể hiện đúng đắn và phù hợp như thế, một Phật tử kính đạo đă thăm đến viếng và chiêm bái những nơi thiêng liêng đúng đắn “với ḷng thành kính”, như Phật đă dạy.

(*) Samvega là cảm xúc của Thái Tử Siddattha lần đầu tiếp xúc với cảnh người già, bệnh và chết. Đây là một từ khó dịch v́ nó bao hàm nhiều mức độ của cảm xúc: (a) cảm giác đè nặng do choáng sốc, vỡ mộng và chán ngán khi nhận ra sự phù phiếm, vô nghĩa của đời sống; (b) cảm giác khiêm nhượng do nhận ra đă ḿnh tự măn và khờ dại khi sống một cách mù quáng; (c) cảm giác bồn chồn khắc khoải do ư thức tính cấp bách của việc t́m cách thoát ra khỏi cái ṿng quẩn quanh vô nghĩa này.

Khó t́m được một từ nào trong ngôn ngữ chúng ta thể gói ghém đầy đủ cả ba tâm trạng đó. Có lẽ chúng ta nên du nhập thẳng từ samvega vào trong ngôn ngữ của ḿnh….

Cảm xúc của Thái Tử với người thứ tư mà Người gặp ngoài cung điện: vị sa-môn du hành. Cảm xúc lúc này của Người có tên là pasada, một loại cảm xúc đa chiều khác, thường được dịch là ‘niềm tin trong sáng’ (‘niềm tin thanh tịnh’, ‘tâm tịnh tín.’). Đây là cảm xúc giữ cho cảm giác samvega không biến thành tuyệt vọng!. Thái tử đă ư thức rơ t́nh trạng hiểm nguy của ḿnh, và ư thức về một con đường thoát khỏi t́nh trạng ‘già, bệnh, chết’ và tin tưởng có một con đường sẽ thành công.

(Theo tham luận “Tin vào Trái Tim - Giáo lư về Samvega & Pasada”, 1997, của Tỳ kheo Thanissaro do Thích Nữ Chân Giải Nghiêm dịch). ND

 
 
 
------------------

 

 

Trang Sử Liệu

 

 

 

Cập nhật 11/5/2025

 

 

Home