HƯỚNG DẪN HÀNH HƯƠNG VỀ XỨ PHẬT
Phần
I
Bốn
Thánh Địa
Thiêng
Liêng
1.
Lumbini,
nơi Đức
Phật đản
sinh
2.
Bodhgaya,
nơi Đức
Phật giác
ngộ
3.
Sarnath,
nơi Đức
Phật khai
giảng Giáo
Pháp
4.
Kusinara,
nơi Đức
Phật Bát-Niết-bàn
(I)
Lumbini, Nơi Đức
Phật Đản
Sinh
1.1
Cách
Để Đi Đến
Nơi:
Lumbini
nằm thuộc bên nước Nepal, bên ŕa
phía Tây miền Trung của Nepal, gần sát bên thị trấn biên giới
Sonauli của
Ấn Độ. Việc
đi đến
nơi này
cũng không
hiện đại
hay quá dễ dàng. Nơi di tích này cũng không thể tiếp nhận
quá nhiều khách tham quan cùng một lúc. Hầu hết những người hành
hương là người từ các nước Đông Nam Á, Nhật Bản và Tây Tạng,
những người khách tham quan phương Tây cũng đến đây khá đều
đặn.
Lumbini có một phi trường nhỏ
mang tên Đức Phật Cồ- Đàm, là „Phi Trường Gautama Buddha‟. Hăng
hàng không ở đây cũng mang tên Đức Phật là „Buddha Air‟ có nhiều
chuyến bay trong ngày đi thủ đô Kathmandu và 9 tỉnh thành của
Nepal, và 1 chuyến bay quốc tế từ Lumbini đến
Lucknow, thành phố thủ đô của bang Uttar Pradesh của Ấn
Độ.
Từ Việt Nam chúng ta cũng có thể
đáp chuyến bay qua
phi
trường Tribhuvan Airport, thủ đô Kathmandu, Nepal và sau
đó nối
chuyến bay
quốc nội
từ Kathmandu
đến Lumbini,
dành cho
những người
hành hương
muốn bắt
đầu chuyến hành hương đến Lumbini
rồi sau đó mới đi qua
những thánh địa c̣n lại của Ấn Độ và như vậy chỉ cần xin Visa 1
lần vào Nepal và Ấn Độ, thay v́ phải xin Visa 2 lần vào Ấn Độ
nếu đi từ Ấn Độ qua Lumbini và quay về Ấn Độ nhập cảnh lần thứ
hai. Nếu đi bằng máy bay vào Nepal,
chúng ta có thể xin cấp Visa tại phi trường Nepal.
Ngày nay, đa số các đoàn hành
hương đều đi Lumbini từ Ấn Độ. Chúng ta có thể xin cấp Visa ở
cửa khẩu Sonauli,
Ấn Độ & Lumbini, Nepal. Từ biên giới, có một con đường tốt chạy đến Lumbini khoảng 20 KM.
●
Tuy nhiên, theo thỏa thuận giữa 2 nước Ấn Độ và
Nepal, nếu bạn đă có visa vào Ấn Độ, khi thăm viếng Ấn Độ xong,
bạn có thể từ Ấn Độ sang thăm Lumbini, Nepal trong ṿng 3 ngày
mà không cần phải xin visa Nepal. Do vậy, rất nhiều đoàn khách
hành hương những vùng đất Phật thường khởi hành viếng những vùng
đất ở Ấn Độ trước, rồi mới đến viếng Lumbini trong vài ngày
– (ND).
Có khoảng 15 khách sạn tiêu chuẩn
tốt và nhà khách yên tĩnh ở Lumbini xung quanh những di tích.
1.2
Ư
Nghĩa Tôn Giáo
(2), (25),
(26)
Sau khi đă tu tập chứng đắc 10
Pháp Hoàn Thiện (Paramis), tức 10 Ba-la-mật, trong bốn a-tăng-kỳ
(asankheyya) và một trăm ngàn đại kiếp
(kappa), vị
Bồ-tát, hay Đức Phật Cồ-Đàm sau này, đă “tái sinh” vào
bụng của Maya
Devi, hoàng
hậu của
vua Suddhodana
(Tịnh
Phạn),
người
đứng đầu
vương quốc
cộng ḥa
Thích Ca
(Sakyan), nằm ngang biên giới của Ấn Độ-Nepal ngày nay.
Vào
ngày Trăng
Tṛn của
tháng Năm,
năm 623
trước CN, Hoàng hậu Maya Devi đang trên đường
từ kinh đô Kapilavatthu (thành Ca-tỳ-la-vệ)
để đến
Devadaha,
quê cha mẹ của bà, để hạ sinh đứa con, theo phong tục
truyền thống của xứ này. Dọc đường, khi đi ngang qua
Vườn
Lumbini, một khu rừng Sala (Long Thọ) đang nở rộ những bông
hoa. Đang chiêm ngưỡng phong cảnh cây, hoa tươi đẹp huy hoàng,
hoàng hậu cảm thấy chuyển dạ rất nhanh để sinh thái tử.
Hoàng hậu gọi những người hầu nữ
che màn xung quanh. Một tay hoàng hậu nắm lấy cành cây
Sala,
bà hạ sinh thái tử trong tư thế đang đứng. Theo
Majjhima
Sutta No. 123 (Trung
Bộ Kinh,
kinh số
123), ngay
sau khi
Bồ-tát
được sinh ra, Người bước 7 bước về hướng Bắc và tuyên bố về vị
trí của ḿnh trên thế gian như sau:
Aggo‟
ham asmi
lokassa
–
Jetto‟
ham asmi
lokassa
–
Setto‟
ham asmi
lokassa
–
Ayam
antima jati
–
Natthi
dani
punabbhavo
–
Ta
là người
đứng đầu
trên thế
gian.
Ta là
người thượng đẳng nhất thế gian. Ta là người cao quư nhất thế
gian.
Đây
là lần
tái sinh
cuối
cùng.
Bây
giờ không
c̣n tái
sinh nữa
đối với
ta!.
Ngay khi Bồ-tát được sinh
ra, một luồng đại hào quang tỏa sáng bao trùm lên tất cả
những hào quang của những vị trời, thần vừa xuất hiện, luồng hào
quang chiếu sáng khắp
nơi, kể cả những nơi tăm tối mà ánh sáng mặt trời, mặt trăng
không thể chiếu sáng đến được. Mười ngàn thế giới rung chuyển và
ầm vang và rồi một luồng hào quang lớn chiếu sáng như để
báo tin
về sự đản sinh của Bồ-tát, vị Phật tương lai.
1.3
Bối
Cảnh Lịch
Sử (5),
(27)
Năm 249 trước CN, vị hoàng
đế vĩ đại A-dục (Asoka)
của triều đại Maurya, người đang trị v́ gần hết bán đảo
Ấn Độ từ năm 273-236
trước CN, đă đến thăm Lumbini, là một phần trong chuyến hành
hương chiêm bái tất cả những thánh địa, và đích thân cúng lễ tôn
nghiêm nơi Đức Phật đă đản sinh. Để ghi nhớ chuyến viếng
thăm của ḿnh, nhà vua đă cho xây một trụ đá, khắc chữ Brami cho
thế hệ con cháu mai sau được biết đến. Chữ khắc trên trụ đá gồm
có 5 ḍng như sau (bản dịch tiếng Anh hiện được đặt tại nơi này
cho khách hành hương đọc):
Tiếng
Brahmi:
Devannapiyena piyadasina lajina-visativasabhisitena.
Atana-agacha mahiyite
Hida
Budhe-jate
sakyamuniti.
Silavigadabhicha kalapita silathabhe-cha usapapite. Hida
Bhagavam jateti Lumbinigame ubalike kate, Athabhagiye ca.
Dịch
nghĩa tiếng
Việt:
“Quốc
vương Devànampiya Piyadasi (A-Dục), người con yêu dấu của các vị
Trời, hai mươi năm sau khi lên ngôi,
đă đích thân ngự viếng và lễ cúng nơi này, v́ Đức Phật
Thích-ca Mâu-ni, đă đản sanh ở đây. Nhà vua ban lệnh khắc
một tượng
con ngựa
trên đầu
một trụ
đá và
dựng trụ đá lên. Bởi v́ Đức Thế Tôn (Bhagavan) được sinh
ra ở nơi đây, làng
Lumbini được giảm thuế canh
tác
và chỉ c̣n đóng 1/8 so với mức thuế thường”.
●
Lưu ư:
Lễ đăng quang ngôi Hoàng Đế của vua Asoka
là vào năm 269 trước CN, 4 năm sau khi ông đă nắm
quyền triều chính.
Sau
cuộc chinh phạt của người Hồi Giáo ở miền bắc Ấn Độ vào
thế kỷ 12-13 sau CN dẫn đến việc cướp bóc và tàn phá những tu
viện và đền thờ Phật Giáo, Lumbini đă bị bỏ hoang và cuối cùng
bị rừng tarai bao phủ. Năm 1896, nhà khảo cổ người Đức,
Tiến Sĩ. Alois A. Fuhrer, trong khi
đang đi
t́m nơi
Phật tích
trong khu
rừng tarai
ở Nepal,
đă vô t́nh t́m thấy một cột đá và đă chắc chắn rằng chính
nơi này là nơi Đức Phật đản sinh. Cột Đá Lumbini (hay
c̣n gọi là Cột Đá Rummindei) vẫn kỳ diệu đứng vững cho đến
ngày nay để làm chứng tích cho nơi Đức Phật được sinh ra.
1.4
Những
Điểm Cần
Thăm Viếng:
(27),
(28)
(1)
Trụ
Đá
Asoka
Sau khi bước vào Vườn Lumbini,
dấu hiệu nổi bật đập ngay vào mắt là một trụ đá cao được bao bọc
xung quanh bằng hàng rào sắt. Đây là „Trụ Đá Lumbini‟ nổi tiếng
được dựng lên bởi vua Asoka vào năm 249 trước CN. Nguyên
thủy trên
đầu trụ
đá này
tượng h́nh
một con
ngựa, nhưng sau
đó đầu h́nh con
ngựa bị
sét đánh
găy, chỉ
c̣n lại
thân trụ đá cao 6.7m. Đây là trụ đá có khắc ḍng chữ xác
nhận khu vực
nơi sinh của Đức Phật. (H́nh 1&2)
(2)
Nơi Thiêng Liêng Nhất Của Thánh Địa
(sanctum
sanctorum)
Khu vực bên trước Trụ Đá Asoka
trước đây là nơi Đền Thờ Hoàng Hậu Maya Devi, đă bị đập ra năm
1995 để tiến hành khảo cổ. Vào ngày 4 tháng Hai, 1996,
một đoàn khảo
cổ do Liên Hiệp
Quốc tài
trợ đă tuyên
bố là đă
t́m thấy chính xác chỗ (điểm) Đức Phật được sinh ra nằm
ngay bên dưới móng của đền thờ. Những nhà khảo cổ đă đào 15 hầm
có chiều sâu khoảng 5m, và t́m thấy được một tảng đá nằm
ngay trên nền được xây bằng 7 lớp gạch của ngôi đền, xác định rơ
chỗ (hay chính điểm) chính xác Đức Phật được sinh ra. (H́nh 4,
5).
Đây là một tin vui cho Phật Tử
khắp nơi trên thế giới. Chúng ta có thể đọc lại một bài đăng tin
trên tạp chí Asia Week năm 2011 mới đây như sau:
“(Theo
Asia Week,
ngày 23
Tháng 5,
2011):
Hàng
thế kỷ qua,
những người hành hương
từ các nơi trên
thế giới đă lùng sục khắp các chân đồi của dăy Hy Mă Lạp Sơn với
hy vọng t́m ra vị trí chính xác nơi sinh của đức Phật. Và ḷng
kiên nhẫn của họ đă được đền bù. Ngày 4
tháng 2 năm 1996 vừa qua, một đội các nhà khảo cổ quốc tế
cho biết họ đă t́m được bằng chứng cuối cùng cho thấy đức Phật
được sinh ra tại Lumbini thuộc miền Tây Nam nước
Nepal.
Hoang tàn và đổ nát, ngôi đền
Maya Devi ở Lumbini - được
xây dựng
cách nay
gần 2600
năm, cách
Kathmandu thủ đô vương quốc Nepal khoảng 240 Km - là cái
nôi của Phật giáo. Hầu hết các Phật tử từ lâu đă tin rằng đây là nơi đức
Phật ra đời. Ngày nay các nhà khảo cổ đă khẳng định điều này
và nói
rằng họ
đă phát
hiện một
mảnh chứng
cớ c̣n thiếu,
nhưng cực
kỳ quan
trọng -
một "tảng
đá hoàn hảo"
được đặt trên nền của ngôi đền Maya Devi và năm 249 trước
Công nguyên, để đánh dấu vị trí chính xác nơi đức Phật được sinh ra. Tảng đá này, cỡ 45 cm x 15 cm, được t́m thấy
sâu bên dưới, cách bề mặt đống đổ nát gần 5m.
Trên đây là khám phá của nhà khảo
cổ Babu Khrisna Rijal
của Nepal và Satoru Uessaka của Nhật Bản vào ngày
18-2-1995. Tuy nhiên măi cho đến gần một năm sau đó, họ
mới công bố nó - sau khi các chuyên gia Ấn Độ, Pakistan và Sri
Lanka đă xác nhận những vật này. Mặc dù
các học giả Ấn Độ vẫn cho rằng đức Phật không phải được sinh ra ở Nepal mà là
quận Gorakhpur thuộc bang Uttar Pradesh, Ấn Độ ngày nay, tuy
nhiên, một tuần sau công bố trên, vẫn
không có phản ứng chính thức nào.
Theo các kinh sách của Phật giáo,
vào năm 623 trước Công nguyên, thân mẫu của đức Phật, Hoàng hậu
Maya Devi, đă ghé qua
Lumbini (Lâm Tỳ Ni) trên đường về nhà
cha mẹ tại Rangram. Bà đă tắm trong một cái ao linh
thiêng, và sau đó đi 25 bước đến một khu rừng nhỏ để sinh con.
Nhiều Phật tử tin rằng đứa bé này, Hoàng tử Siddhartha, đă nhỏm
dậy và bước đi bảy bước.
Gần 400 năm sau đó, Hoàng đế
Ashoka (vua A Dục) - người được cho rằng đă truyền bá Phật giáo
khắp Đông Á - đă làm
một chuyến hành hương đến nơi này và đặt một tảng đá lên vị trí
chính xác của nơi sinh đức Phật. Ông c̣n cho dựng một cây trụ đá
cao lớn gần đó, trên trụ đá có khắc chữ nói về tảng đá này.
Một số ngôi đền đă được xây dựng
ngay trên vị trí này. Nhưng hàng ngh́n năm sau đó, Lumbini đă
suy tàn đến nỗi vị trí
của nó đă bị xóa đi trong hàng trăm năm. Sau nhiều
cuộc t́m kiếm của các Phật tử, vào năm 1895, cây trụ đá
Ashoka đă
được t́m
thấy. Măi
đến năm
1993, công
việc khai quật mới bắt đầu được tiến hành với 200 công
nhân. Họ đă khám phá một cấu trúc bao gồm 15 pḥng. Tại trung
tâm cấu trúc này, họ đă mở được một căn hầm, bên trong là tảng
đá mà người ta tin là do Ashoka đặt. Các quan chức Nepal khẳng
định rằng nó cách cái ao mà Hoàng hậu đă tắm đúng
25 bước chân.
Việc phát hiện chính xác nơi sinh
của đức Phật có một
tầm quan trọng to lớn đối với khoảng 350 triệu Phật tử trên khắp
thế giới.
Hai ngày sau lịnh công bố trên,
đức Vua Birenda của Nepal cùng Hoàng hậu Aishwarya và Thủ tướng
Sher Bahadur Deuba
đă đến
Lumbini để
xem tảng
đá và
trụ đá lớn
Ashoka. Rijal và Satoru đă giải thích với nhà Vua rằng đây là
một tảng đá khối không có ở vùng này. Nó đă được mang đến đây và
đặt vào trung tâm của ngôi đền. Và họ tiếp tục khẳng định đây
chính là tảng đá được nhắc đến trong
pháp dụ khắc ghi trên Trụ đá Ashoka lớn.”
(3)
Đền Thờ Hoàng
Hậu Maya
Devi
(mới)
Gần bên Đền Thờ Hoàng Hậu Maya
Devi mới là một kiến
trúc giống như ngôi chùa, bên trong đặt một tượng đá khắc nói về
sự Đản Sinh của Đức Phật.
Tượng đá khắc cũng có bức phù điêu khắc h́nh hoàng hậu Maya Devi, mẹ của Đức
Phật, đang nắm lấy cành cây Sala với một em bé
mới sinh
ra đứng
trên cánh
hoa sen. Tượng
đá khắc này trước đây đặt ở Đền Thờ cũ. (H́nh 1, 2, 3).
(4)
Ao
Nước Thiêng
Puskarni
Phía Nam của trụ đá Asoka là ao
nước thiêng nổi tiếng – Ao Puskarni, được tin rằng là
chính cái ao nguyên thủy nơi hoàng hậu đă tắm trước khi hạ sinh
vị Bồ-tát. (H́nh 1, 2, 3).
(5)
Chùa Miến Điện, Chùa Nepal, Chùa
Tây Tạng và Trung Tâm Thiền Học
Chùa Nepal được xây bên
trong Vườn Lumbini. Đó là
một tu
viện Phật
giáo Nguyên
Thủy Theravada
do một
Tỳ kheo
người Nepal trông coi. Các chùa Miến Điện và chùa
Tây Tạng và Trung Tâm Thiền Học Panditarama th́
được xây ở xa hơn, bên ngoài khuôn viên Vườn Lumbini.
Những người hành hương nên thăm
viếng những nơi này để tỏ ḷng tôn kính đối với những Tăng Ni
đang tu học và phụng sự ở đây. Sự có mặt và phụng sự của các
tăng ni đă tạo không
khí tôn nghiêm, sống động của những nơi này.
(H́nh
ảnh tham khảo Facebook)
1.5
Kapilavatthu, Kinh đô của Vương quốc Thích Ca
(Sakya)
Cách 27 km về phía Tây của
Lumbini, là tàn tích của kinh thành cổ Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ) của vương quốc
ḍng họ Thích Ca. Di tích này được xác định bằng khu đất
Tilaura Kot (cung điện, nội cung). Việc khai quật khu tàn
tích được tiến hành bởi Cục Khảo Cổ Nepal đă cho thấy những chỗ
có những tháp cổ và tu viện, được xây bằng gạch nung và vữa bằng
đất sét. Tàn tích thành cổ được bao bọc xung quanh bởi những hào
nước và những bức tường làm bằng gạch. (H́nh 7).
Khu vực cấm thành có chiều dài là
518m chạy từ Nam đến
Bắc, và rộng 396m chạy từ Đông sang Tây, khoảng 20.5 hec-ta.
Dựa vào
cơ sở
khảo cổ,
ngoài thành
nơi dân
chúng cư ngụ th́ rất rộng lớn và rất ăn khớp với những
ghi chép trong kư sự Tây Vực Kư của Huyền Trang. Chúng ta có thể
tham khảo thêm một bài báo mới vừa được đăng bởi Quỹ Phát
Triển Lumbini như sau:
“Tổ
chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc
(UNESCO) đă
quyết định
tiến hành
một cuộc
khai quật khảo cổ mới tại Hoàng cung Ca-tỳ-la-vệ,
Tilaurakot, nơi Thái tử Tất-đạt-đa đă sống 29 năm đầu đời ḿnh.
Cuộc
khai quật sẽ được tiến hành bởi Tổ chức Lumbini Development
Trust và Cục Khảo cổ Nepal tại các khu vực chính của phần phía
Tây hoàng cung từ tháng 7-2011 cho
đến tháng 5-2015.
Giáo
sư Ravines Cunningham của Đại học Durhan đồng thời là đại diện
của UNESCO tin chắc rằng cuộc khai quật lần này sẽ làm mọi người
chú ư đến cung điện của ḍng họ Shakya (Thích-ca): “Cho đến nay,
Tilaura-Kot, nơi tọa lạc cung điện của vua Suddhodhana
(vua Tịnh-phạn) vẫn chưa được rơ ràng. Cuộc khai quật này sẽ làm
nó nổi tiếng không kém ǵ vườn Lâm-tỳ-ni”.
Cổng
phía Tây và Đông của Hoàng cung đă được khai quật nhưng cung
điện chính của vua Tịnh-phạn vẫn chưa được
khảo sát
kỹ lưỡng.
Thông tin
về những
phần chưa khám
phá của cung điện
và những
bí ẩn
của nó
sẽ được công bố
rộng răi sau khi khai quật. Các cổ vật t́m thấy sẽ được bảo quản
một cách khoa học tại Bảo tàng Ca-tỳ-la-vệ nhằm thu hút khách
hành hương và du lịch.
Cuộc
khai quật lần này sẽ giúp xác nhận tầm quan trọng trong lịch sử
của thành Ca-tỳ-la-vệ như là một di sản của nhân loại.”
(Theo
Lumbini Development
Trust,
Nepal)
Những người hành hương nên dành
thêm 1 ngày nữa để tham quan khu vực thành nội Tilaura Kot để có
thể thấy di tích Cổng Phía Đông, được gọi là „Mahabhinikkhamanam
Dvara‟ (Cổng của Cuộc Từ Bỏ Vĩ Đại), Đức Phật đă
đi ra bằng cổng này trong đêm xuất gia, để t́m sự Giác Ngộ, vào
đêm Trăng Tṛn của tháng Asalha (tháng Bảy) năm 594
trước CN, khi Người 29 tuổi.
Xung quanh khu vực Tilaura Kot
c̣n có một số di tích ư nghĩa cũng đáng tham quan đối với những
người hành hương, nổi
bật là:
(1)
Niglihawa, Nơi Sinh Của Vị Phật
Kanakamuni Buddha
Niglihawa, cách Tilaura Kot 3 km
về hướng Đông Bắc, được tin là nơi là thị trấn cổ Sobhavati,
nơi sinh của vị Phật Kanakamuni Buddha. Vào lúc Người
được sinh ra, một trận
mưa lớn bằng vàng đă trút xuống toàn khu vực Jambudipa. Được xem
như là
điềm lành,
nên Người
được đặt tên
là Kanakagamana
(kanaka = vàng,
agamana = đến).
Qua thời gian, cái tên Kanakagamana được rút ngắn là:
Konagamana, (âm Hán Việt: Phật Câu-Na-Hàm).
Hoàng đế Asoka đă viếng thăm nơi
này vào năm 249 trước
CN, trong chuyến hành hương của ông
và đă dựng một Trụ Đá để tưởng niệm. Ngày nay, Trụ Đá
Asoka vẫn c̣n được
thấy, bị găy thành 2 khúc. Khúc trên dài 4.6m. Khúc gốc
cao 1.5m c̣n đứng nguyên, hơi bị nghiêng một chút. Những chữ
khắc bằng mẫu tự Brahmi đọc như sau:
“Vua
A-dục, Người Con Yêu Dấu của các vị Trời, đă lên ngôi hoàng đế
14 năm, đă gia tăng kích thước bảo tháp Phật Kanakamuni gấp hai
lần so với kích thước ban đầu. Hai
mươi năm sau khi đăng quang, nhà vua đă đích thân ngự
viếng và lễ bái nơi này”.
(2)
Gotihawa,
Nơi Sinh
Của
Phật
Kakusandha
Buddha
Gotihawa, địa danh Tilaura Kot
7km về hướng Tây Nam, được tin là nơi thành cổ Khemavati, nơi
sinh của vị Phật Kakusandha Buddha, (âm Hán Việt: Phật
Câu-lưu-tôn).
Hoàng
Đế Asoka
cũng đă
viếng thăm nơi
này cùng những
thánh tích ở trên trong một chuyến đi và đă cho dựng Trụ Đá để
ghi nhớ chuyến viếng thăm. Trụ Đá đă bị găy và chỉ c̣n phần gốc
khoảng 3m vẫn c̣n đứng nguyên, nhưng thấp hơn mặt đất ngày nay.
Cả 2 Trụ Đá Asoka mô tả đều được
ghi chép lại trong
Tây Vực Kư của Huyền Trang khi Ngài viếng thăm Kapilavatthu vào năm
637 sau
CN. Vào
thời đó,
cả hai
trụ đá đều có h́nh đầu sư tử ở trên đầu của mỗi trụ.
(3)
Kudan, Khu Di Tích Rừng Cây Banyan
(Nigrodharama)
Kudan
là một khu di
tích mà các học giả tin rằng
đó chính là
Khu Vườn Cây
Banyan
(Nigrodharama), do
Vua
cha Tịnh Phạn (Suddhodana) cúng dường cho Đức
Phật khi Người về thăm kinh đô Kapilavastu (Ca-tỳ-la-vệ).
Chính tại nơi này, ngài Rahula,
con trai của Đức Phật,
(lúc c̣n là Thái tử Siddhattha chưa đắc đạo), đă được thọ
giới vào
tăng đoàn.
Tàn tích
của móng
vách bằng
gạch của tu
viện cổ, được tin là xây vào thời Đức Phật tại thế, vẫn c̣n
đúng. (H́nh 8).
(4)
Sagarhawa,
Di tích
nơi ḍng
họ Thích
Ca bị
tàn
sát
Sagarhawa, nằm gần Niglihawa,
được tin là nơi mà Vua Vidudabha
đă tiến
hành cuộc
tàn sát
ḍng họ
Thích Ca. (Chú
giải 10). Những người địa phương gọi nơi này là Lambu
Sagar, có
nghĩa là
“Ao Nước
Dài” bởi
v́ nơi đây có một ao
nước rất lớn h́nh chữ nhật. Từ Niglihawa, chúng ta có
thể đi
đến Sagarhawa
bằng cách
đi xuyên
qua ngôi làng
Niglihawa và một cây cầu bắt qua một con kênh đào.
±
Chú
giải
10:
Cuộc tấn công của Vidudabha để
tàn sát ḍng họ Thích
Ca xảy ra khoảng một năm trước khi Bát-Niết-Bàn của Đức
Phật. Toàn bộ câu chuyện về cuộc thảm sát này được ghi lại trong
“Luận Giảng Kinh Pháp Cú” (Dhammapada Commentary IV. 3,
29, 30).
Vua Pasenadi của nước
Kosala là một người rất mến
phục Đức
Phật. Người
tướng thủ
lĩnh quân
đội của
nhà vua
là Dighakarayana, cũng là cháu của một
nguyên soái quân đội
của nhà
vua trước
đó. Vị
nguyên soái
này đă
bị chính nhà
vua phản bội và giết chết. V́ vậy, Dighakarayana đă âm thầm mang
ḷng hận thù nhà vua Pasenadi v́ đă gây ra cái chết cho chú của
ḿnh.
Một ngày nọ, vua Pasenadi đang
đến thăm Đức Phật ở ngôi làng Ulumpa của ḍng họ Thích Ca, ông
trao bảo ấn
cho tướng Dighakarayana để giữ. Thay v́ giữ nó,
Dighakarayana đi trao nó cho con trai của vua Pasenadi là
thái tử Vidudabha, lập tức Vidudabha soán ngôi vua
cha và lên làm vua nước Kosala.
Khi vua Pasenadi quay trở về, th́
mới hay rằng ḿnh đă
bị lật đổ, ông bèn đi đến nước Magadha (Ma-kiệt-đà) để cầu cứu
cháu ḿnh là vua Ajatasattu (A-xà-thế). Sau một cuộc hành
tŕnh dài
đến Rajagaha
(thành
Vương-xá), ông
ngă bệnh và chết trước cổng thành. Khi vua A-xà-thế hay
được cái chết của chú ḿnh, ông đă cho tiến hành chôn cất theo nghi lễ
hoàng gia dành cho một vị vua. Sau đó, ông cho lệnh tấn công
nước Kosala của người anh em họ Vidudabha,
nhưng sau
đó các
quan lại
khuyên can,
v́ có
một vị
vua trong họ mới chết, nếu tấn công th́ cả hai bên đều
không tốt.
Vidudabha là kết quả của cuộc hôn
nhân của vua cha Pasenadi và Vasabhakhattiya, con gái của một
người nữ hầu và người đứng đầu của ḍng họ Thích Ca (Sakya) là
vua Mahanama. Trước đây, vua cha Pasenadi, v́ mong muốn
cưới được một người vợ thuộc ḍng họ Thích Ca để trở
thành người họ hàng với Đức Phật, nên đă cử sứ giả đến
thành Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ) để cầu hôn với công chúa
ḍng họ
Thích Ca.
Mặc dù
những người
ḍng họ
Thích Ca
không hài ḷng, nhưng họ cũng không muốn làm
phật ḷng vua nước Kosala. Nên thay v́ gả công chúa, họ gửi cô
con gái xinh đẹp của vua Mahanama và người hầu nữ đó.
Vua Pasenadi đă phong cô gái làm
hoàng hậu chính phi và
sau đó phong Vidudabha làm thái tử. Khi Vidudabha 16 tuổi,
ông quyết
định qua
thăm ông
ngoại ở
Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ). Nghe tin ông sẽ qua, ḍng họ
Thích Ca đă gửi tất cả những hoàng tử nhỏ tuổi hơn ông qua một
ngôi làng khác và những người ở ḍng họ Thích Ca cũng tiếp đón
ông đàng hoàng.
Sau khi ở lại vài ngày ở kinh
thành, Vidudabha và đoàn tùy tùng lên đường quay về Kosala. Một
người hầu đă dùng sữa để lau chùi chỗ ngồi của Vidudabha trong
khu pḥng dành cho khách. Trong khi lau chùi, cô ta vừa nói một
cách khinh thường ông: “Đây là chỗ ngồi của một đứa con của
con nô lệ Vasabhakhattiya.”
Khi một người hầu cận của ông
quay lại để lấy thanh gươm của ông đă bỏ quên, và vô t́nh nghe
được câu nói này và ṭ ṃ t́m hiểu. Sau khi người hầu cận biết
„hoàng hậu‟ Vasabhakhattiya là con gái của một nô lệ và vua
Mahanama, ông ta đă tung tin đồn trong quân lính Kosala.
Sự việc đến tai Vidudabha, ông ta
trở nên căm phẫn và thề sẽ giết sạch ḍng họ Thích Ca khi ông lên làm vua. Khi đoàn
về đến kinh đô Savatthi (Xá-vệ), các quan lại báo với vua
Pasenadi về sự việc đă xảy ra. Nhà vua cũng rất tức giận v́
ḿnh đă
bị lừa
bởi ḍng
họ Thích
Ca, ông
ra lệnh
truất phế ngôi hoàng hậu và những tước
vị hoàng gia đă phong
cho
Vasabhakhattiya và con
trai
Vidudabha, và
giáng họ
xuống giai cấp nô lệ. V́ thế, Vidudabha càng
thêm hận thù những người Thích Ca.
Khi Đức Phật hay được tin này,
Phật đă giảng giải cho
vua Pasenadi
rằng
Vasabhakhattiya là
con của
một nhà
vua – Vua Mahanama. Mặc
dù mẹ
bà là
một nô
lệ, nhưng
điều đó không quan trọng, v́ giai cấp của bà ta được
quyết định theo giai cấp của người cha, chứ không phải theo giai
cấp của người mẹ. V́
thế, sau khi nghe Phật giải bày như vậy, Vua Pasennadi đă quay
lại khôi phục lại tước vị và giai cấp cho mẹ con bà như trước
đây.
Khi Vidudabha lên làm vua, như đă
nói trên, ông vẫn không quên điều mà ông lấy làm xấu hổ đó và
ông đă đem quân đi tấn công vương quốc Thích Ca. Mặc dù Đức Phật
đă can gián ba lần, nhưng Người vẫn không ngăn nổi thảm họa.
Nhân tiện, Đức Phật cũng nhận ra
rằng, những người bà con ḍng họ Thích Ca của người phải đối mặt
với quả báo cho nghiệp
ác mà họ đă gây ra trước kia bằng việc bỏ thuốc độc xuống sông
để giết hại những người bộ tộc sống dưới hạ lưu. Cuối cùng,
Vidudabha đă tấn công và giết hết những người
ḍng họ
Thích Ca,
ngoại trừ
một số
người hậu
duệ của vua Mahanama và những người khác đă kịp trốn
thoát.
Ngay sau đó, theo một nguồn lịch
sử nói là ngay trong đêm đó, Vidudabha cùng với quân lính của
ông cũng bị lũ cuốn chết sau khi san bằng xong thành
Kapilavathu.
Sau này, vua Ajatasattu
(A-xà-thế) xâm lược và chiếm nước Kosala vào khoảng mùa mưa kiết
Hạ (Vassa) thứ 44 của
Đức Phật.
Sau đó
không lâu,
những người
ḍng
họ
Thích Ca (có
thể là những hậu duệ của vua Mahanama đă may mắn thoát khỏi tay
Vidudabha và những người sống sót khác) đă tiếp tục quay về
ở Kapilavatthu, điều này dựa vào
sự kiện vào khoảng 1 năm sau đó, khi Đức Phật
Bát-Niết- Bàn ở
Kushinagar, những người ḍng họ Thích Ca cũng đă kéo quân lính
đến để tham gia chia phần xá lợi Phật và mang về nước thờ trong
một tháp tưởng niệm stupa.
1.6
Ramagama & Devadaha, Kinh Đô Của Vương Quốc
Koliyas
1.6.1
Cách
Để Đi
Đến
Nơi
Ramagama
nằm cách 4km về phía Nam của thị
trấn Parasi ở quận Nawalparasi, khoảng 20 km từ Bhairawa. Chuyến
đi từ Bhairawa vượt qua con sông cảnh quan Rohini River
làm biên
giới thiên
nhiên chia
hai vương
quốc ḍng họ
Thích Ca và Koliyas.
Hai ḍng họ này gần như sắp đánh
nhau trên sông này, nhưng
Đức Phật
đă khuyên
ngăn và
cuộc chiến
đă không xảy
ra. Nếu đi từ Parasi, có con đường trầy trật đi đến Ramagama,
hầu như là đường đất chưa bao giờ được lát trải, nhưng bù lại
được đi ngang qua những ngôi làng xinh đẹp.
1.6.2
Ư
Nghĩa Tôn
Giáo
Đức
Phật đă nhập diệt Đại Bát-Niết-Bàn (Mahaparinibbana) ở
Kusinara vào Ngày Trăng Tṛn tháng Wesak
năm 543
trước CN.
Sau khi
nhục thân
Phật được
hỏa táng, xá lợi được chia đều thành tám (8) phần bằng nhau bởi
một Bà-la-môn tên là Dona. Ông này đă phát cho tám bộ tộc
của tám nước (xứ):
(1)
Vua Ajatasattu (A-xà-thế) của nước Magadha
(Ma-
kiệt-đà),
(2)
Bộ
tộc Licchavi
(Bạt-kỳ)
của Vesali
(Tỳ-xá-lỵ),
(3)
Bộ tộc Sakya (Thích Ca) ở Kapilavatthu
(Ca-tỳ-la-
vệ),
(4)
Bộ
tộc Bulias
của nước
Allakappa,
(5)
Bộ
tộc Koliyans
của nước
Ramagama,
Bà-la-môn
ở Vethadipa,
(6)
Bộ tộc người Malla ở Pava và Bộ tộc người
Malla ở
Kushinagar.
Như đă nói chi tiết ở Phần I, Mục
4. Kunshinagar, 4.2,
bản thân ông Dona giữ b́nh đựng hài cốt đă hỏa táng dùng
để phân chia xá lợi.
Khi những người bộ tộc Moriya
của xứ Pipphalavana
đến th́ đă muộn, bởi v́ tất cả những xá lợi đều đă được
chia, v́ vậy họ chỉ lấy phần tro.
Sau khi
trở về quê hương, những người được chia
phần đă xây
những Bảo Tháp (stupa) để tôn thờ xá lợi của Đức Phật.
V́ vậy, lúc đó có tất cả 8 Tháp thờ xá lợi,
trong đó có 1
Tháp để đặt b́nh đựng hài cốt đă hỏa táng trước khi chia và 1
Tháp để thờ xá lợi tro.
Theo quyển “Sử Liệu về Bảo Tháp
Xá-lợi Phật” (Thupavamsa) được viết vào thế kỷ 12 sau CN,
th́ ngài Mahakassapa (Đại Ca-Diếp) đă nhận ra rủi ro thất
lạc trong việc cất giữ xá lợi xương Phật ở những nơi khác nhau,
nên ngài đă góp ư cho Vua Ajatasattu (A-xà-thế) cất giữ
những xá lợi ở
một nơi
an toàn
nhất. Nghe
theo lời
ngài, nhà
Vua đă lấy phần lớn ngọc xá lợi trong tất cả 7 Bảo Tháp
(trong 8 bảo tháp nói trên), chỉ chừa lại trong mỗi tháp một ít
xá lợi Phật để thờ. C̣n
tất cả
những xá lợi
thu gom đó
được đem về thành
Vương-Xá (Rajagaha) và chôn dưới đất, ở nơi chôn đó cũng được
xây một Bảo Tháp tưởng niệm để đánh dấu.
Trong suốt thế kỷ thứ 3 trước CN,
Hoàng Đế Asoka lại tiếp tục lấy ra một phần của tất cả
những xá lợi c̣n được thờ trong tất cả 7 Bảo Tháp xá lợi đó. Sau
đó nhà vua lại chia ra thờ
trong 84.000
Tháp xá
lợi mới mà
nhà vua
đă cho
xây trên khắp đế chế của ḿnh.
Kinh sử chép lại rằng: Khi Vua
Asoka đến Ramagama
để lấy xá lợi, một con rồng (Naga) từ dưới hồ nước
gần đó cho rằng đó là sự xúc phạm Phật tích. Rồng đă hóa thân
thành một Bà-la-môn và đă đến yêu cầu Vua Asoka không
được lấy
xá lợi
v́ ông
ta (Rồng)
muốn thờ
cúng xá
lợi đó. V́ vậy,
Vua Asoka đă đă thuận theo ư Rồng và đi về tay
không.
Nhà hành hương Huyền Trang
đă đến thăm Ramagama (c̣n gọi là Lan-Mo) vào năm
636-637 sau CN. Lúc này, phong cảnh thật sự hoang vu và buồn tẻ.
Ở đó có một cái hồ lớn, một bảo tháp stupa và một tu viện
với chỉ một Sa-di (samanera) cũng chính là người trụ tŕ.
Sau Bát-Niết-Bàn của Như
Lai (Đức Phật), vua của nước này đă được chia một phần xá lợi
xương Phật và đă xây bảo tháp này để thờ xá lợi. Bảo Tháp xá lợi
này luôn luôn phát ra ánh sáng. Bên cạnh Tháp là hồ nước của con
Rồng (naga). Con rồng lâu lâu một lần xuất hiện dưới hồ và đi
lên, hóa dạng bề ngoài của một con rắn và đi xung quanh bảo Tháp
theo một nghi thức tôn kính. Những con voi rừng tụ tập
thành bầy cũng mang những cành hoa đem đến để xung
quanh tháp.
Cảm kích trước những điều kỳ diệu
này, một nhà sư hành hương
đến đây
đă ở
lại phía
sau để
chăm nom
bảo Tháp. Ông
ta từ bỏ đời
một tu
sĩ để
trở thành
một Sa-di (samanera) như chưa
thọ giới.
Ông đă
xây một
ngôi nhà, vun
đắp đất đai xung quanh để trồng hoa và cây trái.
Những Phật tử ở những nước láng
giềng nghe được chuyện này đă đến cúng dường tiền để xây một
ngôi tu viện và mời ông ta làm trụ tŕ và chăm nom. Và từ đó trở
về sau, không ai đến để thay đổi truyền thống này.
Tức là truyền thống về một Sa-di (samanera) đă luôn luôn
làm trụ tŕ ngôi chùa này, chứ không cần phải là một cao tăng.
1.6.3
Bảo
Tháp Ramagama
Stupa
Tàn tích của một bảo Tháp này và
ngôi tu viện đó nằm
bên bờ
Sông Jahari
gần ngôi
làng Kerwani.
Một mô
đất cao của
Tháp cao
khoảng 9m và
có đường
kính mặt
đáy
21m.
Trong Kinh điển Phật giáo, bộ tộc
Koliyas (Câu-Lợi) của xứ Ramagama này là một trong tám bộ tộc
khác nhận được phân chia xá lợi nhục thân của Đức Phật ở
Kusinagar.
Bảo
tháp Ramagama (H́nh 6) được tin là ngôi tháp nguyên
thủy (Thuật ngữ Phật học c̣n gọi là một „tháp xứ‟
(dhatu stupa) duy nhất chưa bị ai đụng đến, ngay cả là
Vua Asoka cũng đă không đụng đến. Bảo Tháp này vẫn c̣n đứng
nguyên vẹn và c̣n chứa thờ những xá lợi Phật chưa hề bị phân
chia ở bên trong.
Một cuộc thăm ḍ mới đây được
thực hiện bởi Cục Khảo Cổ Nepal (Nepal Department of
Archaeology) cho thấy có nhiều
hiện vật
và cổ
vật khác nhau
được t́m thấy
xung quanh bảo Tháp. Một Phật tử người Nhật Bản đă mới
cúng dường tiền để xây một công tŕnh tưởng niệm ngay bên phía
Tây hồ nước và một tu viện cũng đang được thiết kế tại đây. (Nếu
ngày nay bạn viếng thăm, chắc hẳn sẽ viếng thăm ngôi tự viện này).
(ND)
1.6.4
Devadaha, Quê Nhà Của Hoàng Hậu
Maya Devi, Mẹ Của Đức Phật
Devadaha,
thủ đô của nước cộng ḥa Koliyas, là ngôi làng quê nhà của Hoàng
Hậu Maya Devi, mẹ của Thái Tử Siddhattha, cũng là quê nhà của d́
mẫu (cũng là d́ ruột)
Maha Pajapati của Người. Nó nằm cách Lumbini khoảng 35 km về
phía Đông và gần ngay chân núi Chure, ngay chân phía Nam
của dăy núi Himalaya (Hy-mă-lạp-sơn).
Theo
Kinh Điển,
nơi này
được ghi
chép trong
các
Kinh
Devadaha
Sutta,
thuộc Trung
Bộ Kinh,
là nơi
Đức Phật
đă
phê b́nh những môn đồ của phái ẩn sĩ lơa thể
Nigantha (Ni- kiền-tử) về những quan điểm sai lệch của họ.
Năm 2003, Cục Khảo Cổ Nepal
(Nepal Archaeology Department) đă thông báo đă phát hiện ra di
tích địa danh Devadaha ở Panditpur, làng Baljiria
thuộc quận
Nawalparasi sau khi đă tiến hành khai quật 5 năm trời.
Trong quá tŕnh khai quật, những nhà khảo cổ đă t́m thấy
nhiều hiện vật và cổ vật thuộc những triều đại Maurya (Asoka),
Kushan và Gupta, vốn là những triều đại trị v́ hết những lănh
thổ hai bên bờ Sông Rohini là biên giới thiên nhiên của hai
vương quốc Thích Ca và vương quốc cộng ḥa Koliyas. Việc phát
hiện một bức tượng có chu vi 500m và
một con kênh để dẫn nước từ Sông Rohini đă xác lập sự
thật rằng nơi đây chính là kinh đô cổ của nước cộng ḥa
Koliyas.
Tuy nhiên, một tổ chức được gọi
tên là Viện Bảo Tồn Devadaha (Devadaha Conservation
Academy) lại khẳng
định vị trí của Devadaha nằm ở Bhabanipur, cách
Barimai và Kanyamai, về phía Nam, trong khu
rừng
tarai nằm ở phía Đông của quận Rupandehi. Việc tuyên bố
này lại được củng cố bằng
bằng chứng
Trụ Đá
Asoka (đă
bị găy)
bên cạnh một tượng đá Thần Mặt Trời.
Như
vậy, có
vẻ như
toàn khu
vực kinh
đô Devadaha
là rất lớn, kéo dài bao phủ cả hai quận là Nawal Parasi
và quận Rupandehi, như các báo cáo đưa ra vừa nói trên. Từ sau
năm 2007, nền chính trị của Nepal đă trở nên lắng dịu và ngày
nay, mọi người đều có thể đến thăm viếng kinh đô cổ
Devadaha sau
khi đă
đến thăm
Bảo Tháp
Ramagama Stupa ở quận Nawal Parasi.
(II)
Bodhgaya, Nơi Đức Phật Giác Ngộ
1.1
Cách
để đi
đến
nơi:
Bodhgaya
(Bồ-Đề Đạo Tràng) nằm trong bang
Bihar, cách Patna 105 km bằng đường bộ và Varsanasi 230
km bằng đường bộ.
1.2
Ư
Nghĩa Tôn
Gíao (2), (16),
(26)
Sau khi
xuất gia khỏi kinh thành (Cuộc Từ Bỏ Vĩ Đại),
Bồ-tát đă đến gặp 2 đạo sư tu khổ hạnh là Alara
Kalama và Udakka
Ramaputta,
những vị
thầy này
đă dạy cho
Người tu chứng được những tầng thiền Vô Sắc Giới.
Mặc dù những cảnh giới chứng đạt
được đó là những cảnh
giới cao nhất vào lúc bấy giờ, nhưng Người vẫn không thỏa măn,
v́ những cảnh giới đó không dẫn đến Niết-Bàn (Nibbana).
Sau khi từ giă họ, Người đă t́m đến một hang động vắng vẻ
trên một ngọn đồi có tên là
Đồi Dhongra. Ở
đó Người đă thực hành những pháp tu khổ hạnh
liên tục trong 6 năm
trời, đau
đớn và
vô ích,
chỉ c̣n
lại bộ
xương gầy guộc và Người gần như sắp chết.
Sau nhận thấy sự vô ích của
việc tu hành xác, Người quyết định đi theo Con Đường
Trung Đạo và bắt đầu ăn
uống trở lại để hồi phục sức khỏe. Năm người bạn tu khổ
hạnh kia nghĩ rằng người đă bỏ cuộc và bắt đầu quay lại việc
hưởng lạc, nên họ đă từ bỏ Người.
Bấy giờ, Bồ-tát bắt đầu
cuộc đấu tranh một ḿnh đi t́m
sự giác ngộ. Một ngày trước ngày Trăng Tṛn tháng Wesak,
trong khi mang b́nh bát đứng dưới một cây Banyan chuẩn bị đi
khất thực, một thiếu nữ tên là Sujata đă đến dâng món
cháo nấu bằng gạo với sữa trong một cái đĩa bằng vàng.
Thiếu nữ Sujata là con của một tộc trưởng của ngôi làng
Senanigama sát bên.
Sau khi dùng xong món cháo,
Bồ-tát mang cái đĩa vàng
ra bờ sông Neranjara (Ni-Liên-Thuyền) và nói lên
rằng:
“Nếu Ta có thể thành công trở
thành một vị Phật, hăy cho
chiếc đĩa
này trôi
ngược ḍng
nước, c̣n
nếu không thể thành, hăy để chiếc đĩa trôi xuôi ḍng”.
Người quăng cái đĩa vàng xuống
sông. Chiếc đĩa nổi lên giữa ḍng sông và trôi ngược ḍng nước,
được khoảng 80 cubit (tức khoảng
37m) rồi ch́m
xuống theo ḍng nước
xoáy.
Buổi
chiều hôm đó, trên đường Bồ-tát đi đến Cây Bồ-
Đề, người cắt cỏ tên là Sotthiya đă mang đến
những bó cỏ Kusa dâng cho Bồ-tát để Người làm chỗ
ngồi thiền dưới gốc cây Bồ-Đề. Bồ-tát ngồi xếp tréo chân
tư thế Hoa Sen, mặt quay về hướng Đông, Người kiên quyết
một ḷng và nói
rằng
“Dù
cho da, gân, xương
khô héo. Dù cho
thịt và máu có
khô cạn. Ta quyết sẽ không rời khỏi chỗ ngồi cho đến khi ta
chứng ngộ thành Phật.”
Đến đây
là đỉnh điểm
cuối cùng của những pháp tu Hoàn Thiện (Ba-la-mật)
mà Người đă hoàn thành trong vô lượng kiếp (aeons).
Không có một chúng sinh nào, ngay cả Ma Vương và đạo quân gây
chết chóc của ông, cũng không thể nào làm cho Đức Phật phân tán
hay rời khỏi chỗ ngồi
này.
Chỗ ngồi Aparajita này
không thể bị làm lung lay,
không thể bị phá được, Ma Vương không thể nào phá hoại
được.
(Chữ
Aparajita: có nghĩa là “không thể làm lung lay, không lúc
nào có thể phá thế được”. Hán Việt thường dịch
là: Chỗ ngồi “Minh Vương Vô Năng Thắng”).
Khi
Ma Vương
(Mara) đến
thách thức
và quấy
nhiễu, Bồ-tát liền đưa tay phải chạm xuống mặt đất
và hô to trái đất minh chứng cho 30 pháp Hoàn Thiện (Ba-la-mật)
của người. Ngay lập tức, trái đất rền vang, rung chuyển
và làm phân tán Ma Vương và đạo quân của Ma Vương.
Sau
đó, tâm
Người tĩnh
lặng và
trong sạch,
vào canh một,
Người chứng đạt được (1) Trí Lực Biết Rơ Quá Khứ,
có thể nhớ rơ, biết rơ
những kiếp trước sau của ḿnh và người khác, về mặt
thời gian quá khứ, hiện tại, tương lai.
(Hán Việt đọc là:„Túc Mạng Minh‟).
Vào
Canh hai,
vào ngay
nửa đêm,
Người chứng
đạt
được
(2)
Nhăn Lực Nh́n Thấy Rơ Quá Khứ, Hiện tại & Tương Lai,
như nh́n thấy
rơ được những
kiếp trước sau
của ḿnh và người khác, về mặt không gian. (Hán
Việt đọc là: „Thiên Nhăn Minh‟).
Và
cuối cùng,
vào canh
ba, Người
chứng đạt
(3) Trí
Thấy Được Nguyên Nhân và Con Đường Kết Thúc Sinh
Tử, không c̣n ô nhiễm và bất tịnh, không
c̣n „rơi rớt‟ vào cơi sinh tử nào nữa. (Hán Việt đọc là:„Lậu
Tận Minh‟) –
►
Xem
thêm Hoa
Vô Ưu,
tập I
của HT.
Thích Thanh
Từ.
Như
vậy, một Đức Phật Chánh Đẳng, Chánh Giác (Samma-sambuddho)
đă xuất hiện trên thế gian vào Ngày
Trăng Tṛn của Tháng Wesak năm 588 trước CN.
1.3
Bối
cảnh Lịch
Sử (9),
(27)
Bodhgaya
(Bồ-Đề
Đạo Tràng) là nơi giác Ngộ tối
thượng của Đức Phật, là nơi thiêng liêng nhất trên
trái đất đối với tất cả Phật tử.
Trong suốt thời gian Đức Phật c̣n
tại thế, địa danh nằm bên bờ Neranjara (Ni-Liên-Thuyền)
này được gọi là Uruvela. Vua Asoka là người đầu
tiên xây đền thờ ở nơi thánh địa này. Một bức chân dung về Đền
Thờ của Vua Asoka xây
và những cơ ngơi khác được xây ở khu vực Bodhgaya đă được
t́m thấy trong một bức phù điêu trên bảo Tháp Bharhut
Stupa ở Madhya, Pradesh.
Bắt đầu từ chuyến viếng thăm lần
đầu tiên bởi vua Asoka vào năm 259 trước CN, vô số những người
hành hương đă liên tục đến chiêm bái cái nôi Phật giáo
này suốt 2.500 năm qua. Sau đó, thời gian
những thánh tích này bị tàn phá bởi
đội quân Hồi Giáo cực đoan vào thế kỷ 13 là khoảng thời gian gián đoạn ḍng người hành hương đến Bodhgaya.
Dharmasvamin,
một nhà hành hương Tây Tạng đă thăm Bodhgaya vào năm 1234 sau
CN. Ông đă chứng kiến quang cảnh điêu tàn của nơi này và đă ghi
lại như sau:
“Chỉ
thấy có 4 tu sĩ c̣n ở lại (trong chùa). Một sư nói rằng: „Thật
không lành‟. Tất cả đă bỏ chạy trong nổi khiếp sợ trước đội quân
của Turushka. Họ (những nhà sư) bít kín cổng
trước Tháp Đại
Bồ-Đề
(Mahabodhi) bằng
gạch và trám
chặt bằng vữa. Gần đó, họ xây một tượng khác để thay
thế.”
Khi
Phật giáo
suy tàn
tại Ấn
Độ, người
Miến Điện
đă đến cứu ngôi Tháp Đại Bồ-Đề thoát khỏi bàn tay phá
hoại. Họ sửa chữa lại ngôi
Tháp Đại Bồ-Đề ít nhất 3 lần
suốt từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 15. Lần sửa chữa sau cùng là
những năm 1472-1492.
Từ đó về sau, Bồ-Đề Đạo Tràng đă
bị quên lăng và ngôi Tháp Đại Bồ-Đề ngày càng hoang phế. Với
điều kiện thuận lợi về vị trí, ông Gosain Giri, một tu sĩ khổ
hạnh Hindu giáo đă xây dựng một ngôi đền Hindu tại Bồ-Đề Đạo
Tràng năm 1590. Sự có mặt của ngôi đền này đă làm cho Bồ-Đề Đạo
Tràng rơi vào tay những Mahants của Hindu, đó là những người
không phải Phật tử và giai đoạn phi Phật giáo bắt đầu.
Năm mươi năm sau, năm 1861, ngài
Cunningham đă gặp những
Mahants của
giáo hội
Hindu và
những môn
đồ tổ chức
những nghi lễ phi Phật giáo tại Tháp Đại Bồ-Đề. Hơn thế nữa, mặc
dù tổ chức này tuyên bố Tháp Đại Bồ-Đề và vùng đất quanh đó là
của riêng họ nhưng họ chưa từng bao giờ sửa sang lại ngôi Tháp
lịch sử này.
Ngài (Sir) Edwin Arnold,
tác giả của quyển „Light of Asia‟ đă viếng thăm Tháp Đại Bồ-Đề
Mahabodhi vào năm 1885 và đă đăng thuật lại những nghi lễ này
trên tờ báo
Daily Telegraph ở London như sau:
“Thế
giới Phật giáo đă, thật sự, lăng quên tâm điểm thiêng liêng nhất
và đáng quan tâm nhất này- Đó là một Mecca, một Jerusalem, của
cả triệu giáo đoàn của phương Đông, khi tôi lưu lại Buddhagaya
(Bồ-Đề Đạo Tràng) cách đây vài năm. Tôi cảm thấy thật đau buồn
khi thấy những nông
dân Maharatta đang hành lễ
„Sharaddh (hay Shrada)‟ ở nơi đó, và hàng ngàn di tích quư giá bằng đá chạm khắc
bằng tiếng Phạn nằm chất đống xung quanh”.
●
Ghi chú:
Shrada là một tập tục lễ tang sau cùng của người
Hindu, khi hành lễ, những câu thần chú và câu kệ
được tụng thay cho người chết, với niềm tin rằng sẽ giải
thoát linh hồn khỏi thế gian và sẽ được tái sinh ở cơi
trời.
1.4
Tỳ kheo hộ pháp Anagarika
Dharmapala & Hội Đại Bồ-Đề (Maha Bodhi) (5),
(23)
Cuộc đấu tranh giành lại quyền
chăm nom và kiểm soát Tháp
Đại Bồ-Đề
bởi những
người Phật
tử bắt
đầu từ
ngày
22
tháng Giêng, 1891
sau khi vị Tỳ kheo Anagarika Dharmapala từ Tích Lan đến
thăm Bodhgaya. Nh́n thấy cảnh thánh tích thiêng liêng nhất này
bị lăng quên và bị xúc phạm, ngài đă phát tâm nguyện:
“Tôi sẽ làm việc để cho thánh địa
thiêng liêng này trở thành được chăm nom bởi những Tỳ kheo của
chúng ta”.
Bước đầu tiên, ngài thành lập
Hội Đại Bồ-Đề (Maha Bodhi Society) ở Bồ-Đề Đạo Tràng vào
ngày 31 tháng Năm, 1891 để huy động những sự ủng hộ cho mục đích
cao cả của ḿnh. Sau
đó, ông
thỉnh mời
những Tỳ
kheo từ
Tích Lan đến ở
lại Bồ-Đề Đạo Tràng, gồm có: ngài Chandajoti, ngài
Sumangala, ngài
Pemmananda
và ngài
Sudassana.
Họ đến Bồ-Đề Đạo Tràng vào tháng Bảy, 1891 và ngự lại ở
Nhà Khách Miến Điện.
Khi Mahant (đạo sĩ đạo Hindu, chỉ
người đang cai quản Tháp Đại Bồ-Đề) đang nắm quyền sở hữu đất
của khu Bồ-
Đề Đạo
Tràng Bodhgaya,
ông ta đă từ
chối, không
chấp nhận sự có mặt của những Tỳ kheo Phật giáo, và vào
tháng hai, 1893, 2 Tỳ kheo đă bị người của ông ta
đánh đập nặng
nề.
Hai năm sau, năm 1895, khi ngài
Anagarika Dharmapala đang cố gắn một bức h́nh Phật (những Phật
tử Nhật Bản đă dâng tặng cho ngài) lên tầng trên của Tháp, ngài
đă bị người của Mahant
tấn công và ngăn cản. V́ vậy ngài phải đem
bức h́nh về để tại nhà khách Miến Điện. Mahant Hindu và
những tổ chức đạo Hindu đó vẫn không chịu và họ đă t́m cách đẩy
bức h́nh Phật ra khỏi Nhà Khách Miến Điện,
nhưng chính phủ đă can thiệp.
Vào năm 1906, Mahant đó đệ đơn
kiện và t́m cách trục xuất những Tỳ kheo ra khỏi Nhà
Khách Miến Điện. Và
cuộc đấu tranh pháp lư này giữa Mahant Ấn giáo và những
Tỳ kheo Phật giáo đă kéo dài đến tận năm 1949, khi chính
quyền Bang Bihar đă ra Đạo Luật Quản Lư Tháp việc Quản Lư
Buddha Gaya
(Bồ-Đề Đạo
Tràng) sẽ
được chuyển
qua Ủy Ban Quản Lư của chính quyền. Đạo Luật đưa
ra 2 điều đáng phản đối, đó là:
Ủy Ban Quản Lư gồm 9 người, trong
đó đa số phải là người Hindu, và những thành viên Phật
giáo khác trong ủy ban
phải là người Ấn Độ. Mặc dù
Hội Đại Bồ-Đề đă phản đối, Dự Luật vẫn được thông qua với một tu
chỉnh là Ban Cố Vấn (Advisory Board) phải có đa số là
người Phật giáo và không nhất thiết phải là người Ấn Độ. Điều
này có nghĩa là: Những người Phật giáo chỉ có thể cố vấn cho Ủy
ban Quản Lư, nhưng quyết định cuối cùng vẫn thuộc về quyền của
ban quản lư là người Hindu!.
Đối với
Hội Đại Bồ-Đề (Maha Bodhi Society), điều đó giống như một thứ
ngụy biện, khi mà Tháp Đại Bồ-Đề (Mahabodhi Temple) lại được
quản lư bởi những phần tử không phải là Phật tử, thử tưởng
tượng xem sẽ ra sao nếu một đền thờ
Hồi giáo,
một nhà
thờ Thiên
Chúa giáo,
một „Sikh
gurdwara‟ hay đền thờ đạo Hindu lại được kiểm soát bởi những
người thuộc tôn giáo khác.
Trong
bài viết
của ḿnh
“Lời Thề
Nguyện Vẫn
C̣n Đó” ở Sambodhi, 1996, Đại Đức Pannarama
Mahathera, Tỳ kheo phụ
trách Hội
Đại Bồ-Đề
lúc bấy
giờ, nay
đă quá
cố, đă tiết lộ một sự thật mỉa mai là ngay cả Ban Cố Vấn
(Advisory Board) đă được cho là gồm đa số là những người
Phật giáo,
nhưng chỉ
có được
11 người,
trong khi
đó bên
phi
Phật giáo
lại chiếm đến 14 người! Đă đến lúc cần phải thay
thế những người bên đa số phi Phật giáo kia bằng những người
Phật giáo đa số, như luật định đă được đưa ra trước
kia.
Nhưng những lời Thề Nguyện đó của
các Tỳ kheo vẫn chưa được đáp ứng cho đến tận ngày hôm nay.
1.5
Những
Điểm cần
Thăm Viếng
(26),
(27), (31),
(32)
(1)
Tháp Đại Bồ-Đề
hay Tháp Đại Giác (Mahabodhi Temple)
Tháp đại Bồ-Đề có một lịch sử lâu
đời. Những cuộc khai quật bởi Ngài Cunningham vào năm 1872 cho
thấy có 3 giai đoạn xây dựng của tháp này.
Giai
đoạn thứ
nhất công
tŕnh do
vua Asoka
xây dựng vào
thế kỷ 3 trước CN, được gọi là Đền Bồ-Đề (Bodhi Shrine),
như được minh họa trong bức phù điêu gắn trên
Tháp Bharhut Stupa vào thế kỷ 2 trước CN.
Giai đoạn thứ hai là công tŕnh
trùng tu Tháp Bồ-Đề nguyên thủy (Bodhi Shrine) được thực hiện
bởi 2 nữ Phật tử mộ đạo là Surangi và Nagadevi,
những người vợ của Vua triều đại Sunga.
Giai đoạn thứ ba là công tŕnh
trùng tu xây dựng do Huviska, vua của vương quốc
Kusana vào thế kỷ 2 sau CN. Những h́nh tượng Phật đều xuất
thân từ giai đoạn này. Những đền
Tháp được
xây dựng
để thiết
đặt những
h́nh, tượng này. Ngài Cunningham
cho rằng, toàn bộ Tháp Đại
Bồ-Đề, như được thấy ngày nay, chủ yếu là công
tŕnh của Vua Huviska
(năm 111-138
sau CN). V́
tháp được xây dựng lại
trên cơ
sở nền
tháp nguyên
thủy của
vua Asoka, nên
Ṭa Kim Cương (Vajrasana Throne), vị trí ngồi
thiền và Giác Ngộ của
Đức Phật, vẫn được giữ nguyên
như nguyên
thủy.
Vào
thế kỷ 7, việc
trùng tu đă được thực
hiện và gắn thêm những
phiến đá ba-zan xây trên ṭa cũ bằng thạch cao. Vào thế kỷ 19,
cuộc đại trùng tu được tiến hành, dưới sự
giám sát của những nhà chuyên môn Cunningham,
Beglar và R.
L. Mitra, khôi phục lại Tháp Bồ-Đề, sau nhiều thế
kỷ bị tàn phá bởi những người Hồi giáo và sự bỏ lơ của những
Mahant ngoại đạo. Công tŕnh huy hoàng mà chúng ta nh́n thấy hôm
nay là kết quả của những tấm ḷng mộ đạo và những sự
đóng góp vô cùng quư hiếm.
Tháp Đại Bồ-Đề đương nhiên là một
công tŕnh huy hoàng
và nổi bật nhất trong khu vực Thánh Địa Bodhgaya (Bồ-Đề Đạo
Tràng). Cao 52m, với tổng diện tích phần nền móng h́nh vuông
là 231
m2, mỗi
cạnh vuông
là 15.2
m2 (50 feet), bao gồm một tháp lớn h́nh kiểu
kim tự tháp và 4 tháp nhỏ nằm ở 4 góc, là những mô
h́nh thu nhỏ của tháp lớn.(H́nh 9).
Cổng chính quay về hướng Đông,
phía trước bên ngoài cổng là một cổng chào bằng đá do vua Asoka
xây, được chạm khắc
rất tinh xảo. Những khoảng trống âm tường của
cả 2 mặt vách của Bảo Tháp đều có khắc h́nh tượng Phật.
Gian đại Chánh Điện (Sanctum) ở tầng trệt sau khi đi qua
một lối đi
có mái
ṿm ṿng
cung, hai
bên là
cầu
thang
bằng đá
dẫn
lên một điện
thờ nhỏ hơn nằm
ở tầng một. Ngay sau
khi tiến vào đại Chánh Điện, chúng ta sẽ gặp ngay một tượng Phật
bằng đá mạ vàng trong tư thế ngồi với tay phải tiếp đất (bhumi
phassa-mudra) trong ngày Giác Ngộ.
Chỉ cần
ngắm nh́n bức tượng Phật lộng lẫy, trái tim của người hành hương
chắc chắn sẽ khởi sinh niềm hoan hỷ và thành kính!.
Đó là kết quả của ḷng tin và ḷng kính đạo của người hành hương trong việc làm theo lời khuyên dạy
của Đức Phật là “nên đến viếng thăm và chiêm bái
với ḷng thành kính”.
Bức tượng Phật bằng đá mạ vàng
được làm từ thế kỷ 10 sau CN. Ở đây, Đức Phật được miêu
tả trong tư thế ngồi trên (miếng lót) tọa cụ, thay v́
trên một đài sen. Tọa cụ được đặt trên một bệ dài lớn hơn, dày
hơn, trên mặt vách dày hơn đó
có khắc
h́nh lần
lượt sư
tử, voi.
Tư thế
ngồi trên
tọa cụ
là nét chung được t́m thấy ở rất nhiều h́nh và tượng Phật
khác ở Đông Ấn Độ, có thể được làm theo kiểu của bức tượng này. Nhiều người đă không biết được rằng bức tượng này đă không
được đặt ở đây trong những cuộc khảo cổ xung quanh khu vực
Buddhagaya (Bồ-Đề Đạo Tràng) bởi chính quyền thuộc địa của người
Anh lúc bấy giờ. Theo một bài báo viết về “Những Tượng Điêu Khắc
Bồ-Đề Đạo Tràng ở
Sambodhi, 1993” (Buddhagaya Sculptures in the Sambodhi, 1993),
R. L.
Mitra đă
ghi rằng,
bức tượng
đă bị đặt
trong khu vực của Mahant.
Sau đó theo yêu cầu của Ngài
Cunningham và Beglar, (những nhà khảo cổ học tiến
hành cuộc đại trùng tu, như đă nói
ở phần trên),
bức tượng
đă được
dời qua
đặt tại
vị trí hiện
tại trong Chánh
Điện. Nhờ
công đức
và sự
can thiệp
của 2 con người đáng kính này, bức tượng đă được
đặt vào nơi đúng đắn ở Chánh Điện
cho những người hành hương
sau này được chiêm bái, thay v́ như trước đây bị lăng
quên, lăng phí ở trong bên khu vực của Mahant đạo Hindu.
(2)
Cây
Bồ-Đề
(Bodhidruma)
Cây Bồ-Đề (Bodhi),
nơi Đức Phật ngồi tọa thiền bên
dưới và chứng đạt Giác Ngộ Tối Thượng, đứng ở phía sau
Tháp Đại Bồ-Đề. Đó là một cây Tất-Bát-La (thuộc họ Ficus
religiosa), tiếng Pali gọi là cây “assattha”,
có nghĩa là an lạc.
Truyền thuyết nói rằng cây này
mọc lên cùng lúc Đức
Phật đản sinh, như là một loại đồng sinh
(sahajata) của
Người vậy - (tiếng Anh: co-natal). Theo nhiều luận giảng,
nhiều vị Phật khác nhau cũng đắc đạo khi ngồi dưới một gốc cây,
bất cứ loại cây nào mà vị Phật đó chọn, và mỗi cây đó đều trở
thành cây Bồ-Đề, tức là cây Giác Ngộ trong cơi của vị Phật đó.
Trong cơi này, cây Tất-Bát-La trở
thành Cây Giác Ngộ hay Cây Bồ-Đề và
chỉ có Cây Bồ-Đề của Đức Phật Cồ-Đàm là được tôn kính. Di
tích Cây Bồ-Đề này là tượng trưng
giống nhau cho tất cả chư Phật.
Người ta tin rằng không nơi nào
trên thế gian này có thể hỗ
trợ cho
uy nghi
của sự
Giác Ngộ
của Đức Phật.
Nền đất ở đây rất chắc, không hề bị lung lay, di
chuyển ngay cả khi trái đất rung chuyển thế gian để xua đuổi
Ma Vương và đội quân của ông
ta đến
để thách
thức, phá
rối nhằm
làm cho
vị
Bồ-tát
phải rời bỏ chỗ ngồi Giác Ngộ. Ngay cả Vua
Trời Sakka Devaraja cũng không thể bay qua ngang cây
Bồ-Đề. Lực hút siêu nhiên ở nơi đó được gọi là Trung tâm điểm
hay cái Rốn của Trái Đất.
Vào
thời xưa
những vị
Vua và
thường dân
đă đến
nơi này để suy tôn cây Bồ-Đề. V́ cây Bồ-Đề trở
thành đối tượng được tôn vinh của những Phật tử, nên lẽ tự nhiên
cây trở thành mục tiêu phá hủy bởi những kẻ thù hằn Phật giáo.
Theo Ngài Huyền Trang, Cây
Bồ-Đề đầu tiên lại bị chặt phá bởi Vua Asoka,
nhưng sau này, nhà Vua ân hận, đă
chăm bón lại Cây Bồ-Đề bằng cách tưới tẩm
nước hương thơm và sữa tươi vào rễ cây. Nhà Vua thể hiện ḷng
thành kính sâu sắc đối với cây Bồ-Đề, đến nỗi một hoàng hậu
đương triều lúc đó của nhà Vua là Tissarakkha, đă
trở nên ghen tị với Cây Bồ-Đề và đă cho người lén
lút phá hủy cây. Nhà Vua lại tiếp tục làm sống lại cây. Sau đó,
nhà Vua cho xây bức tường cao 3m xung quanh cây để bảo vệ.
Sau khi sự sụp đổ của triều đại
đế chế Maurya vào thế kỷ
2 trước CN, vua của triều đại Sunga, Pusyamitra,
là kẻ tra tấn Phật
giáo, lại phá hủy Cây Bồ-Đề. Nhưng một cây con
của chính Cây Bồ-Đề nguyên thủy được mang
về từ Tích Lan, và được trồng lại đúng ngay chỗ ấy.
Vào thế kỷ 6 sau CN, Sasanka,
một vua Hindu, lại chặt phá Cây Bồ-Đề,
nhưng sau đó, một cây con của Cây Bồ-Đề lại được
mang về từ Tích Lan và được trồng lại bởi nhà Vua Purvavarma
của nước Magadha (Ma-kiệt-đà), và ông cũng đă
cho xây
bức tường
cao 7.3m
để rào
Cây
Bồ-Đề lại.
Bức
tường
này chỉ
c̣n lại
6.1m khi
Ngài Huyền
Trang viếng
thăm trong lịch sử.
Đến năm
1876, Cây Bồ-Đề già bị ngă đổ trong một trận băo
và một cây con của Cây Bồ-Đề được trồng lại chính
ngay chỗ cũ bởi Ngài Cunningham. Đến nay,
Cây Bồ-Đề này
đă 135 tuổi.
(3)
Ṭa
Kim Cương
(Vajrasana)
Ṭa Kim Cương (Vajrasana) nằm
giữa Cây Bồ-Đề và Tháp Đại Bồ-Đề. Điểm này đánh dấu đích
thực ngay chỗ ngồi của
Đức Phật lúc chứng đạt sự Giác Ngộ Tối Thượng. Hiện nay, chỗ này
được đánh dấu bằng một tảng đá sa thạch dài 2.3m, rộng 1.3m và
dày 0.9m (H́nh 10).
Những người hành hương khi đến
thánh điểm thuận lợi (đầy hộ niệm) này nên dành thời gian để
quán chiếu công hạnh
của Đức
Phật để
tăng trưởng
tṛn đầy
ḷng tin
và sự
an lạc có được nhờ chánh niệm để phát triển trí tuệ
minh
sát.
(4)
Đức
Phật Ở
Lại 7
Chỗ sau
khi Giác
Ngộ
Sau khi giác ngộ thành Phật vào
đêm Trăng Tṛn tháng Wesak, đến rạng sáng, Đức Phật đă thầm reo
lên khúc ca vui mừng, hỷ lạc viên măn. Ngài quyết định tiếp tục
ngồi trên Ṭa Kim Cương (Vajrasana), chỗ ngồi bất bại và tối thắng trước
cuộc chiến với Ma Vương và Người đă thành tựu viên
măn
mọi ước
nguyện trước
đây, bao
gồm cả
đại nguyện
thành Phật.
Đó là thời điểm cả thế gian trời,
người c̣n ghi nhớ đến
tận ngày nay. Và sau đó, Đức Phật nhịn đói luôn suốt bảy
tuần và lưu lại bên dưới và xung quanh khu vực gần gốc
Cây
Bồ-Đề.
(I)
Tuần Lễ Đầu Tiên: Đức Phật Tọa
Thiền Trên Ṭa Kim Cương (Pallanka Sattaha)
Trong suốt bảy ngày của tuần lễ
đầu tiên, Đức Phật ngồi yên một tư thế, trải nghiệm niềm An Lạc
của Sự Giải Thoát. Sau 7 ngày, ra khỏi định an lạc đó và suy
tưởng về Thuyết Duyên Khởi (Paticca Samuppada) suốt một
đêm.
(II)
Tuần Lễ Thứ Hai: Đức Phật Ngắm Nh́n
Cây Bồ- Đề (Animisa Sattaha)
Trong tuần thứ hai, để tỏ ḷng
tri ân sâu sắc đối với cây Bồ-Đề đă che chở cho Người suốt thời
gian thiền hành để thành Đạo, Ngài đă đứng chăm chú ngắm nh́n
cây Bồ-Đề suốt một tuần liền mà không hề nháy mắt (Animisalocana).
Về sau, chính nơi này, vua Asoka đă dựng lên một tháp kỷ niệm
gọi là Animisalocana Cetiva và đến nay vẫn c̣n. (H́nh
11).
(III)
Tuần Lễ Thứ Ba: Đức Phật Đi Hành
Thiền (Cankama Sattaha)
Trong
suốt tuần thứ ba, Đức Phật đi kinh hành lên xuống trên quăng
đường gần cây Bồ-Đề, sau này được gọi là “Đường Kinh Hành
Ngọc Báu” (Ratana Cankamana: đường kinh hành ngọc
báu). (H́nh 12).
(IV)
Tuần lễ Thứ Tư: Đức Phật Ngự Trong
Bảo Điện (Ratanaghara Sattaha)
Trong
tuần lễ
thứ tư,
Đức Phật
ngồi tham
thiền trong
thất, được gọi là “Bảo Thất” (Ratanaghara: nghĩa là cái
pḥng bằng ngọc báu,
trong ư
nghĩa “cái
pḥng quư
báu”) để suy niệm về Vi Diệu Pháp (Abhidhamma),
triết giảng về những Chân lư Tuyệt đối, tột cùng liên quan đến
phạm trù danh và sắc (tâm và vật chất).
Trong
khi Đức Phật quán chiếu về triết lư sâu sắc và vi diệu là Luận
Thuyết về Nhân Duyên (Patthana, tiếng Anh: Conditional
Relations), Người vui mừng và khởi sinh niềm hỷ lạc thật lớn
lao trong tâm Toàn Trí cvuaR Người, làm phát quang bên
trong sắc thân, Kinh sách ghi nhận rằng, tâm và thân Người
phát sáng một vầng hào quang sáu màu
– xanh, vàng, trắng, đỏ, hồng và luồng ánh sáng kết
hợp 5 màu đó.
Vị trí của Bảo Thất này được đánh
dấu bằng một Điện Tháp, phía trước có một bia đá có khắc chữ ghi
lại nơi Đức Phật đă ngồi và suy niệm về thuyết Nhân Duyên (Patthana).
Điện Tháp này cũng nằm trong khuôn viên Tháp Đại Bồ-Đề, sát bên
hướng Bắc của Đường Kinh Hành Ngọc Báu (Cankama). (H́nh 13).
(V)
Tuần lễ Thứ Năm: Đức Phật Ngồi Dưới
Cây Ajapala Banyan Nigrodha (Ajapala Sattaha)
Trong tuần thứ năm, Đức Phật ngồi
dưới cây Ajapala Banyan để suy niệm về Giáo Pháp và thấm nhuần
niềm hạnh phúc của sự giải thoát. (Ajapala có nghĩa là “chỗ của
người chăn dê”.
Cây Banyan là một loại cây đa,
cây này là nơi những người
chăn dê
trong vùng
thường ngồi
nghỉ trong
khi thả cho
bầy dê ăn cỏ).
Vào cuối
tuần, khi
Ngài xuất
ra khỏi trạng
thái siêu thế ấy, có một vị Bà-la-môn ngă mạn (Huhumka Jakita)
đến gần và hỏi Người rằng “đứng về phương diện nào và những điều
kiện nào ông ta có thể trở thành một thánh nhân (Brahmana)?”.
Đức Phật đă trả lời và chỉ ra những phẩm chất cần có của một
Bà-la-môn đích thực nên có.
Vị trí di tích này được đánh dấu
bằng một bia đá bảng
hiệu gắn trên cột bê-tông, có khắc chữ ghi chú để tưởng
niệm. (H́nh 14).
(VI)
Tuần lễ Thứ Sáu: Đức Phật Ngồi Dưới
Cây Mucalinda (Mucalinda Sattaha)
Tuần
thứ sáu, Đức Phật đến ngồi dưới cây Mucalinda, gọi theo
tên của
Măng Xà
Vương (cây
thuộc họ
Barringtonia acutangula). Lúc bấy giờ, trời giông băo,
gió lạnh mù mịt kéo dài suốt bảy ngày.
Truyền thuyết kể lại rằng,
Mucalinda, Vua Rắn từ dưới
hồ nước đi lên, dùng thân quấn quanh người Đức Phật và
lấy cái mỏ to che trên đầu Đức Phật để che chở, bảo vệ cho
Người. Vị trí di tích cũng là Ao Mucalinda (Ao Măng Xà Vương)
ngày nay, ở phía Nam và gần bên Tháp Đại Bồ-Đề. (H́nh 15).
(VII)
Tuần Thứ Bảy: Đức Phật Ngồi Dưới
Cây Rajayatana (Rajayatana Sattaha)
Tuần
thứ bảy, Đức Phật đến ngồi dưới cây Rajayatana, (thuộc
họ Buchanania latifolia) gần
Tháp Đại
Bồ-Đề. Lúc đó
có hai người lái buôn tên là Tapussa và Bhallika
đến từ Ukkala (Orissa)
dâng lên
cúng dường
Đức Phật
bánh gạo nếp và
mật ong.
Sau khi Đức Phật thọ trai bữa ăn
xong, hai người quỳ lạy dưới
chân Người
và xin
được quy
y nương
tựa vào
Đức Phật và Giáo Pháp của
Người. Họ trở thành những Phật Tử cư sĩ đầu tiên, quy y
vào Phật & Pháp (Nhị Bảo). Sau lúc
đó, Đức Phật đưa tay lên đầu và lấy 8 sợi tóc của
ḿnh để tặng cho 2 Phật tử đầu tiên. Sau này, hai anh em trở về
lại Miến Điện với xá lợi tóc quư giá đó, sau này xá lợi tóc đó
được đặt thờ trong ngôi Chùa Shwedagon Pagoda ở thủ đô
Yangon. Vị trí di tích này, ở phía Nam Tháp Đại Bồ-Đề, được đánh dấu
bằng một bia đá bảng hiệu gắn trên cột bê- tông, có khắc chữ ghi
chú để tưởng niệm. (H́nh 16).
(5)
Di
Tích Nhà Của
Cô Sujata
Kuti
Trước khi Giác Ngộ, vị Bồ-tát
đă ở gần bờ sông Neranjara (Ni-Liên-Thuyền) trong
hang động Dungeswari. Hang động này ở trên một ngọn đồi,
tên là Đồi Dhongra,
cách Bồ-Đề Đạo Tràng khoảng 1 giờ đi bộ.
Sau khi trải qua 6 năm tu hành
khổ hạnh một cách đau
đớn và vô ích, Người quyết định đi theo con đường Trung Đạo và
bắt đầu đi về hướng Rừng Uruvela gần ngôi làng
Senanigama. Ở đây, chúng ta có thể thấy được khu di tích “Nhà
của cô Sujata”, nằm trên một dăi đất nhỏ.
Trong làng, chúng ta cũng có thể
thăm một Miếu Thờ, dưới
bóng một
cây Banyan,
trong đó
có những
tượng miêu tả
cảnh Cô Sujata đang dâng cháo gạo sữa cho Bồ-tát
vào ngày của cái đêm Người giác ngộ thành Phật. (H́nh 19).
(6)
Rừng
Uruvela
Khu
vực này,
trước kia
là rừng, bây
giờ là một khu
cây cỏ mọc, gần chỗ Miếu Thờ Sujata.
Tại đây, chúng ta có thể thấy một
di tích xây có một cái giếng cạn. (H́nh 20). Nơi đây được
tin là „hầm lửa‟ của ba anh em nhà Ca Diếp Kassapa, những
Jalita búi tóc thờ thần lửa có đến 1 ngàn đệ tử. Ở đây,
Đức Phật cũng đă hàn phục một con rắn, ẩn núp trong hầm lửa.
Sự thu phục người anh Ca Diếp
(Kassapa Uruvela) đă mất nhiều
thời gian
hơn. Đức
Phật đă
phải dùng
đến thần
thông mới thuyết phục và chuyển hóa những
Jalita thờ thần lửa được. Sau khi Uruvela Kassapa (Hán Việt
đọc: Ưu-lâu- tần-loa Ca-diếp) trở thành đệ tử của Đức Phật, 2
người em, Nadi và Gaya, cùng những đệ tử của họ
cũng đi theo. Sau khi
nghe Phật thuyết giảng Kinh Lửa, một ngàn Tỳ kheo
mới vừa được thọ giáo vào Tăng đoàn đă đều trở thành
A-la-
hán.
(7)
Pragbodhi, Nơi Bồ-tát thực
hành Tu Khổ Hạnh 6
năm
Trước khi Giác Ngộ, Bồ-tát
đă ở bên bờ hữu ngạn sông Neranjara (Ni Liên Kiền) trong một khu
rừng gần Pragbodhi,
phía trước đồi Bồ Đề (Bodhi).
Truyền thuyết kể rằng Người sống
trong một hang động nhỏ có tên là Dungeswari, nằm ngang
dốc lên đỉnh đồi. Sau khi đă thực hành việc tu khổ hạnh, hành
xác 6 năm trời, Người quyết định đi theo con đường Trung Đạo, và
đến khu rừng Uruvela gần ngôi làng Senanigama, tức ngôi làng
Bakraur ngày nay.
Chúng ta leo lên một đoạn dốc
đứng dẫn đến một ngôi chùa nhỏ tên là Chùa Hang Động
Dungeswari do
những nhà sư Tây Tạng trông nom. Bên trong hang động Dungeswari, (H́nh
18), có một bức tượng vị Bồ-tát với thân h́nh chỉ c̣n
lại xương, sau 6 năm hành xác, khổ hạnh.
Đồi Pragbodhi (rất nhiều khu di
tích trên nhưng ngọn núi nhỏ, người ta vẫn gọi là đồi) ngày nay
gọi là đồi Dhongra, (H́nh
17), cách
làng về
phía Đông
Bắc khoảng
1 dặm Anh (1.6
km), cách
khoảng 30
phút lái
xe đến
Rajgir (thành
Vương-xá).
(8)
Những Chùa & Tu Viện ở Bodhgaya
(Bồ-Đề
Đạo
Tràng)
Bodhgaya
(Bồ-Đề Đạo Tràng) là cái nôi của
Phật giáo. Trong khu vực chiếm khoảng 15km2, nhưng trong một
diện tích nhỏ này có đến 30 tu viện và cơ sở đại diện cho nhiều
quốc gia Phật giáo trên thế giới, trong một cộng đồng Phật giáo
nhỏ ở đây.
Một
cuộc thăm
viếng đến
những ngôi
Chùa ở
đây sẽ giúp
cho chúng ta hiểu được Phật giáo được thực hành ở những
nước khác
nhau như
thế nào,
theo văn
hóa địa phương
của họ, mà vẫn theo đúng Phật Pháp.
Ở đó
cũng có một trung tâm Thiền Minh Sát Vipassana,
chẳng hạn như trong Chùa Miến Điện (Burmese Vihara) và
Trung Tâm Thiền Quốc tế.
Danh sách những tên, những đền,
chùa, tu viện Phật giáo và cơ sở Phật giáo được ghi trong Chương
Tŕnh Lưu Niệm Buddha Mahotsav 1999 theo thứ tự chữ cái như
sau:
Tăng
Đoàn Toàn Ấn Độ (All India Bhikkhu
Sangha), Trung
Tâm Văn Hóa
Phật giáo
Châu Á
(Asian Buddhist Culture Centre), Chùa
Bangladesh (Bangladesh Temple), Ban Quản Lư Bồ-Đề Đạo Tràng
(Buddhagaya Temple Management Committee), Chùa Miến
Điện (Burmese Vihara), Chùa
Trung
Hoa
(Chinese
Temple), Chùa Đại Tạng Kinh Nhật Bản (Đaijokyo Japanese Buddhist
Temple), Trung Tâm
Thiền Pháp Giác (Dhamma Bodhi Meditation Centre), Qũy Từ Thiện
Drikyug (Drikyug Charitable Trust),
Chùa Druk Nawag Thupten Choeling, Chùa Nhật Bản Indosan
Nipponjee (Indosan Nipponjee Japanese Temple), Trung Tâm Thiền
Quốc Tế (International Meditation Centre), Chùa Jambunad Vihar,
Chùa Karma Temple, Chùa Triều Tiên, Hội Đại Bồ-Đề
(Maha Bodhi Society), Dự Án Di-Lặc (Maitreya Project),
Chùa Nav Bauddha Vihar, Chùa Panch
Sheela Vihar, Viện Văn Hóa Trí Tuệ Root (Root
Institute for
Wisdom
Culture), Chùa
Hoàng Gia
Bhutan (Royal Bhutan Temple), Tu Viện Thích Ca (Sakya
Monastery), Hội Văn Hóa và Phúc Lợi Tam Bồ- Đề (Sambodhi Welfare
and Cultural Society), Tu Viện Shechen Monastery, Chùa Đài Loan
(Taiwan Temple), Chùa Tamang Nepal Temple, Hội Bharat Thái Lan (Thai Bharat Society), Chùa Thái Lan Bodhi Kam,
Chùa Tây Tạng (Tibetan Temple), Trung Tâm
Trailokya Centre, Chùa Việt Nam Quốc Tự và Chùa Thái Lan
(Wat Thai).
(III)
Sarnath, Nơi Đức Phật Khai Giảng Bài Thuyết Pháp
Đầu Tiên
3.1
Cách
để Đi
Đến
Nơi:
Sarnath nằm thuộc bang Uttar
Pradesh, cách thành phố Varanasi (Benares) khoảng 30 km. Sarnath
cách Bồ-Đề Đạo Tràng (Bodhgaya) khoảng 250 km.
3.2
Ư
Nghĩa Tôn
Giáo (3), (25),
(26)
Sau khi trải qua 7 tuần ở 7 nơi
trong khu vực Bodhgaya (Bồ-Đề Đạo Tràng) sau khi Giác Ngộ, Đức
Phật đă quyết định đi
đến truyền dạy Giáo Pháp mà Người đă giác ngộ cho
5 anh em người bạn tu khổ hạnh trước đây của Người là:
Kondanna (Kiều-Trần-Như), Vappa, Bhaddiya, Mahanama và Assaji, những người đă theo Người suốt
6 năm trời tu khổ hạnh.
Phật
đến Vườn Nai (Lộc Uyển) ở Isipatana, tức là Sarnath
ngày nay, vào Ngày Trăng Tṛn của Tháng
Asalha,
chính xác
đúng 2
tháng sau
Ngày
Trăng Tṛn tháng Wesak
ở Bồ-Đề Đạo Tràng.
Khi họ nh́n thấy Đức
Phật từ xa, họ
không muốn tiếp đón
Người, nhưng khi Đức Phật đến gần, họ tự nhiên thấy ngược lại và
đảnh lễ Người. Đức Phật có thể thuyết phục họ về sự Giác Ngộ, sự
đắc đạo của Người.
Đêm hôm
đó, Đức Phật đă khai giảng bài Thuyết Pháp Đầu Tiên, đó
là Kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavattana
Sutta), mà ngay sau đó, Kondanna (Kiều-Trần-Như) đă
chứng đạt ngay Tầng thánh thứ nhất (Nhập Lưu). Bốn người
c̣n lại cũng chứng được tầng
thánh thứ nhất
sau 4
ngày liên
tiếp nghe
Đức Phật giảng
dạy. Sau đó, Đức Phật cũng thuyết giảng cho họ Kinh Vô Ngă
Tướng (Anattalakkhana Sutta) mà sau khi
nghe giảng xong, tất cả họ đều chứng đắc quả vị A-La-Hán,
tầng thánh cuối cùng.
Cũng tại địa danh Sarnath, Đức
Phật đă chuyển hóa (Hán Việt: độ) chàng quư tộc Yasa và
nhóm 54 người bạn của anh ta, và họ cũng chứng ngộ quả vị
A-La-Hán.
Sau đó,
Đức Phật phải cử họ đi nhiều phương khác nhau, mỗi người một
phương, để tiếp tục truyền bá Giáo Pháp. V́ vậy,
Sarnath
đă trở
thành một
địa danh
nổi tiếng,
là nơi khai
giảng Giáo Pháp của Phật là nơi Tăng Đoàn (Sangha)
Tu Sĩ Phật Giáo đầu tiên được thành lập.
3.3
Bối
Cảnh Lịch
Sử (5),
(27)
Vua
Asoka đă
đến thăm
viếng Sarnath
vào năm 249 trước CN, và đă cho xây nhiều đền tháp để tưởng niệm chuyến
viếng thăm
của ḿnh,
nổi bật
là: Tháp
Dhamek
stupa, Tháp
Dharmarajika stupa (Tháp Pháp Vương) và
Trụ Đá Asoka với đầu trụ h́nh con Sư Tử rất nổi
tiếng, nay là biểu tượng quốc huy của Ấn Độ.
Vào triều đại Vua Kaniska (năm 78
sau CN), Sarnath là một trung tâm hoạt động tôn giáo lớn và có
một đại tượng Bồ-tát
rất lớn
nổi tiếng
Bodhisatta
có mái
lọng che
trên đầu, do Tỳ kheo Bala đến từ Mathura thiết lập.
Trong thời kỳ triều đại Gupta
(Thế kỷ 4-6 sau CN), bảo tháp Dhamek Stupa được bao bọc
bởi những tảng đá được khắc chữ, chánh điện của tu viện
Mulagandhakuti được mở rộng
ra và
một tượng
“Phật Đang
Giảng Pháp”,
một món quà từ
Vua Kumaragupta, đă được thiết đặt ở đây.
Vào năm 520 sau CN, Sarnath cũng
gánh chịu phần đổ nát
của ḿnh dưới sự xâm lăng và phá hoại của quân Hung
Nô của
tên Mihirakula man rợ. Nhưng
sau khi quân
Hung Nô bị đánh bại, th́ Sarnath lại tiếp tục nở rộ rồi
việc phát triển Phật
giáo dưới thời vị Vua Phật giáo là Harsa Vardharna
(606-647 sau CN), và tiếp tục là một vùng đất thánh sống động
dưới thời các Vua triều đại Pala (từ thế kỷ
8-12 sau CN).
Người
bảo trợ Phật giáo ở Sarnath cuối cùng là Hoàng Hậu Kumaradevi,
người vợ Phật tử mộ đạo của nhà Vua Govindachandra of Benares
(năm 1114-1154 sau CN). Bà đă cho xây một tu viện lớn ở Sarnath
tên là Dhammacakka
Jina Vihara (Dhammacakka: bánh xe chuyển Pháp, Jina:
người chinh phục hay người làm được, Vihara: chùa, tu
viện). Di tích của ngôi chùa này được t́m thấy
trong cuộc khai quật
vào đầu thế kỷ 20.
Lịch
sử càng
ngậm ngùi
hơn và
Sarnath cũng
không tránh được. Sau cuộc tàn sát Tăng Đoàn
ở khắp nơi ở Ấn
Độ, đoàn quân cực đoan tôn giáo của người Hồi giáo Thổ
Nhĩ Kỳ đă đến san bằng Sarnath. Sarnath trở thành nơi tàn
phế và rơi vào quên lăng suốt 600 năm, cũng như những
thánh địa khác ở bán đảo Ấn Độ.
Năm 1794, Sarnath được thế giới
biết đến khi rơi vào
t́nh cảnh bi đát nữa. Jagat Singh, một viên quan của Vua
Raja Chetsingh của xứ Benares (Ba-la-nại), đă đập vỡ Bảo Tháp
Dharmarajika (tháp Pháp Vương) thiêng liêng ra
thành từng mănh để lấy gạch và đá để xây những pháo đài,
nhà cửa thuộc địa. Khi đập đổ bảo tháp, những người phu công đă
phát hiện ở độ sâu 8.3m có một ḥm bằng đá
trong đó có chứa một hộp bằng đá cẩm thạch màu xanh. Bên
trong hộp có chứa xá lợi người, giả thiết cho rằng đó là
xá lợi Phật,
bởi v́ chính Vua Asoka đă xây bảo tháp và đặt xá lợi
đó vào trong bảo tháp để thờ. Tuy nhiên theo phong tục
của người Hindu, Jagat Singh đă mang quăng xuống sông Hằng và
măi măi không được t́m thấy. Hành động phá hoại tôn
giáo này (vandalism) những tưởng đă bị che mờ, không ai
sau này biết đến, nhưng nhờ vào sự phát hiện của Ngài
Jonathan Duncan, Cao Ủy xứ Benares, đă được đăng tải
trên tờ “Asiatic Researches”.
Nhiều sự quan tâm đổ dồn về những
tàn tích của Sarnath và đến năm 1815, Col. C.
Mackenzie bắt đầu cuộc khảo sát và phát hiện ra những tượng
điêu khắc, hiện nay được lưu
giữ trong Viện bảo Tàng Calcutta Museum.
Năm 1835-1836, Ngài Sir
Cunningham đă tiến hành khai quật và phát hiện hơn 40 bức tượng
điêu khắc và tượng đá khắc chữ. Lại một t́nh cảnh bi thương xảy
ra nữa, khi những di vật này bị vô t́nh hay cố ư chở đi bằng xe
g̣ng, khi Ngài Cunningham vắng mặt, cùng 60 xe đá chở ra ngoài
dùng để làm vật liệu xây dựng 2 cây cầu và những cơ sở khác ở
Benares (Ba-la-nại).
Những
cuộc khai quật tiếp
theo được tiến hành
không liên tục từ năm 1851 đến 1922, đă làm lộ ra bảo
tháp Dhamek stupa, bảo tháp Dharmarajika
stupa, Tu viện Mulagandhakuti,
Trụ đá
Asoka và
nhiều tàn
tích của nhiều
tu viện.
Bốn thánh
tích đầu
tiên đó
được xem
là thiêng liêng nhất, v́ những thánh tích đó trong
lịch sử gắn liền với Đức Phật lịch sử.
Thánh tích thiêng liêng thứ năm
có lẽ là Tháp Pancayatana, đă bị lún ch́m theo thời gian,
mà một số trưởng lăo tin rằng đó chính là chỗ Đức Phật ngồi
giảng bài thuyết Pháp Đầu Tiên.
3.4
Những
Điểm cần
Thăm Viếng
(5),
(27)
(1)
Chaukhandi
Stupa
Đây
là công
tŕnh tưởng
niệm đầu
tiên được
nh́n thấy khi
tiến vào Sarnath. Đây là khu di tích công tŕnh được xây toàn
bằng gạch h́nh nón vun lên cao, trên đỉnh là một khối tháp h́nh
bát giác, tám cạnh, là
di tích c̣n lại của đại
tháp cổ
này.
Tháp này được xây dựng để tưởng
nhớ chuyến viếng thăm
của Hamuyan, vua của triều đại Mugal của Ấn Độ, cha của vua kế
ngôi Akbar Khan, đă đến Sarnath năm 1588 sau CN. Nơi này được
tin là chỗ Đức Phật đă dừng lại để cho 5 người tu khổ
hạnh Kiều-Trần-Như nh́n thấy Người và đảnh
lễ mời người bước vào trong Vườn Nai (Lộc Uyển).
(2)
Vườn
Nai -
Isipatana
Cách 1km về hướng Bắc là Vườn Nai
(Migadaya), cũng được gọi là Isipatana (Chỗ Đáp
Xuống của nhà Tiên Tri). Trong khu vực yên tĩnh này, chúng ta có
thể thấy được những
công tŕnh tưởng niệm cổ xưa và thiêng liêng, như là:
(3)
Bảo
Tháp Dhamek
Stupa
Tháp Dhamek
stupa, là công tŕnh oai nghiêm nhất ở Sarnath, có kiến trúc
h́nh trụ đứng, đường kính thiết diện
mặt đáy là 28.5m và cao 43.6m. (H́nh 24).
Trong
thời triều
đại Gupta,
phần dưới
của phần
tháp được bao bọc bằng đá, có khắc chữ rất đẹp. Bảng điêu
khắc gồm có những chữ cổ điển nhất dạng dấu hiệu Swastikas
được khắc
theo nhiều
mẫu h́nh
học khác
nhau, với
một ṿng hoa sen khắc tay chạy từ trên xuống dưới. (Xem
thêm những h́nh chụp của những „kư tự‟ Swastikas trên
google.com). Trong khi đập xới một cây cột giữa trung tâm của
tháp Stupa này để t́m hiểu và di vật, ngài Cunningham phát
hiện ra
tàn tích
cũ của
tháp bằng
gạch có
từ thời Mauya. Người ta
cho rằng
đó có
thể là
Tháp stupa
được
dựng lên bởi Vua Asoka trong chuyến viếng thăm
của ngài đến Sarnath.
Tuy
không t́m thấy di tích hay xá lợi nào, nhưng có một bia đá ghi
lại giáo pháp của Phật: “Ye dhamma hetuppabhava…”: “Tất
cả mọi sự (pháp) đều có nguyên nhân…”).
Đây là
những kư
tự của
thế kỷ
6 và
7. Những ḍng
chữ này là rất gần với giáo Pháp của Phật.
Theo như những ḍng ghi chú bằng
chữ khắc của Vua Mahipala triều đại Pala (năm 1026 sau CN), th́
tên nguyên thủy của tháp này là Tháp Chuyển Pháp Luân
(Dhammacakka stupa). Ban Khảo
Cổ Ấn
Độ (Archeological Survey of India – ASI) đă sử dụng bằng
chứng này
để bảo
vệ lập
luận rằng,
tháp này
chính là
sự đánh dấu chỗ Đức Phật khai giảng bài Thuyết
pháp đầu Tiên cho nhóm ngài Kiều Trần Như.
Tuy nhiên, cũng không thể nào xác
nhận tương tự cho 2 tháp
c̣n lại,
là Tháp
Pháp Vương
(Dhammarajika stupa) và Tháp Pancayatana của thời đại Gupta,
như đă nói ở phần trên. V́ vậy, đối với những người hành hương,
cách tốt nhất là cứ xem toàn bộ khu vực (Vườn Nai) này là chỗ
Đức Phật khai giảng Kinh chuyển Pháp Luân và luôn luôn chánh
niệm khi viếng thăm ở nơi tất cả những bảo tháp đó.
(4)
Tháp
Pháp Vương
- Dharmarajika Stupa
Tàn
tích của Tháp Pháp Vương (Dharmarajika stupa) cũng
nằm gần tháp Dhamek stupa về phía Bắc, bao gồm một
khu
nền móng
h́nh tṛn,
đó là
tất cả
những ǵ
c̣n lại
sau cuộc tàn phá của viên quan Jagat Singh nghịch đạo.
Bảo Tháp nguyên thủy được Vua
Asoka xây dựng, có đường kính mặt đáy dài 13.4m, nhưng kích
thước đă được tăng rộng lên gấp đôi vào thời triều đại Gupta,
như chúng ta được thấy ngày nay.
Tháp Pháp Vương (Dhammarajika
stupa) như tên gọi của tháp đă cho thấy ư nghĩa của nó, được
tin là do Vua Asoka xây dựng vào thời phân chia lại xá lợi
Phật từ 7 bảo tháp stupa đầu tiên sau khi Phật
Bát-Niết-Bàn và đem vào đặt thờ thêm trong những bảo tháp
stupa khác ở nhiều nơi khác
nhau. Tuy nhiên, những nhà sư Miến Điện th́ cho rằng Tháp
Pháp Vương
này được
xây để
đánh dấu
chỗ
Phật thuyết pháp
đầu tiên. (H́nh 23).
(5)
Mulagandhakuti
(Hương Thất
Thứ
Nhất)
Phía
bắc Tháp Dhammarajika stupa là tàn tích của
Mulagandhakuti
(Hương Thất Thứ
Nhất), nơi
đức Phật trải
qua mùa mưa Kiết hạ đầu tiên. (H́nh 25).
Theo Luận Giảng Kinh Pháp Cú, căn
pḥng này được cúng dường bởi một người giàu có tên là
Nandiya. Và ngay sau khi Đức Phật chấp nhận căn pḥng th́
một ṭa nhà xuất hiện trên cơi trời Tavatimsa (Đao-Lợi) cho chủ
của nó là
Nandiya.
Pḥng Hương là một ṭa h́nh
vuông, mỗi cạnh dài
18.3m, cửa
chính quay
về hướng
Đông. Khoảng
trống
giữa
Hương Thất và Tháp Pháp Vương (Dharmarajika stupa)
được tin
là chỗ
bức tượng
Bồ-tát
rất lớn
nổi tiếng do
Tỳ kheo Bala từ Manthura đem đến đặt.
(6)
Trụ
Đá Asoka
Đi một chút về phía Tây của Hương
Thất Mulagandhakuti,
bên dưới mái che và được bọc xung quanh bằng hàng rào đứng là
phần gốc trụ cao khoảng 2m của Trụ Đá Asoka. Trụ đá
nguyên thủy cao 15m và trên đầu của trụ
là tượng
Sư Tử
rất nổi
tiếng, hiện
đang được
lưu giữ
tại Viện Bảo Tàng Sarnath Museum.
Trụ Đá này được tin rằng để đánh
dấu nơi Đức Phật tập họp Tăng Đoàn (Sangha) gồm 60
A-La-Hán (5 người trong nhóm Kiều-Trần-Như và 55 người trong
nhóm Yasa – ND) và đề
xuất họ đi về những miền khác nhau để truyền bá giáo pháp của
Đức Phật. Trên cột đá cổ một hàng chữ khác: “Không để bất cứ
ai chia rẽ Tăng Đoàn”.
Vào thời Vua Asoka, có nhiều nhóm
Tỳ kheo thuộc những
giáo phái khác nhau đang sống ở Sarnath, v́ vậy, người ta tin
rằng Vua Asoka cho khắc ḍng chữ chỉ dụ này cho Tăng Đoàn (Sanghabhedaka)
để khuyến khích sự ḥa hợp của những giáo phái Phật giáo khác
nhau.
(7)
Đền
Thờ Bị Lún
Pancayatana
Phía Đông của Tháp Pháp Vương
(Dhammarajika stupa) là
một di
tích bị
lún xuống
bên dưới
nền bê-tông.
Đây là
một
đền tháp thờ h́nh vuông, được làm bằng gạch đất
nung, giống
như kiểu
những đền
vuông vào
thời Gupta,
được gọi là “pancayatana”.
(H́nh 26).
Di tích đền thờ bị lún này cũng
được một số đạo sư tin là chỗ Đức Phật thuyết giảng bài Thuyết
Pháp Đầu Tiên cho 5 người bạn tu khổ hạnh. Nhưng v́ di tích này
không được nổi tiếng như 4 di tích kia, nên ít có người đến đây
thăm viếng hơn, cho nên đây là chỗ yên lặng, rất tốt cho
việc suy niệm và tọa thiền.
(8)
Tu
Viện Mulagandhakuti
Vihara
Khoảng 500m về phía Đông của Tháp
Dhamek stupa là Tu
Viện Mulagandhakuti Vihara. Tu viện này được xây dựng bởi
Hội Đại Bồ-Đề của Ấn Độ vào năm 1931 bằng sự nỗ lực không mệt
mỏi của Tỳ kheo hộ pháp Anagarika Dharmapala,
người đă nguyện làm cho tất cả những thánh địa ở Ấn Độ
được chăm nom bởi những Tỳ kheo trong Tăng
Đoàn.
Công tŕnh này được tài trợ bởi
một Phật tử hào hiệp của Tỳ kheo Anagarika Dharmapala là bà
Mary Elizabeth Foster
ở Hawaii. Vào ngày khánh thành Tu Viện, những xá lợi Phật
thiêng liêng được khai quật và t́m thấy ở Taxila vào năm
1913-1914 đă được Tổng Giám Đốc Ban Khảo Cổ đại diện chính quyền
mang tặng Hội Đại Bồ-Đề. Những xá lợi Phật này được đặt thờ bên
dưới pho tượng Phật Đang
Thuyết Giảng và được lấy ra để lễ lạy trong dịp Lễ
Kathina hàng năm.
Những bức bích họa rất đẹp kiểu
Ajanta trên hai bức
tượng của Tu Viện được vẽ bởi nghệ nhân Nhật Bản,
Kosetsu Nosu. Ông ta đă làm việc 3 năm,
1932-1935, để hoàn thành. (H́nh 21).
Gần sát bên ngoài của Tu Viện là
một tượng Phật bằng kích thước người thường mới được xây, để
diễn tả Đức Phật đang thuyết giảng bài Kinh đầu tiên cho nhóm 5
người tu khổ hạnh. (H́nh
22).
Hiện tại, trụ tŕ Tu viện
Mulagandhakuti Vihara là vị Trưởng Lăo Tiến Sĩ
Dodangoda Rewata Thera, cũng là
Phó Tổng Thư Kư Hội Đại Bồ-Đề Ấn Độ. Ngài cũng chính là tác giả của quyển sách “Con Đường Hoa Sen” (The Lotus Path),
miêu tả
về Tám
Thánh Địa
Quan Trọng
của cuộc hành
hương về đất Phật.
(9)
Viện
Bảo Tàng
Khảo Cổ
Sarnath
(Đóng
cửa ngày
thứ
Sáu)
Viện bảo tàng lưu trú những
Cổ Vật được t́m thấy và
khôi phục từ những tàn tích trong khu vực Vườn Nai trong
những cuộc khai quật khảo cổ từ năm 1905 trở về sau. Bên trong
viện bảo
tàng, có
trưng bày
nhiều tượng
điêu khắc Phật
và Bồ-tát, hầu hết là có nguồn gốc từ thời đại Gupta
(thế kỷ 4-5 sau CN).
Bốn tượng điêu khắc quan trọng
nhất được trưng bày và
có sự tích như sau:
(a)
Tượng
Sư
Tử
Bước vào sảnh chính, chúng ta có
thể nh́n thấy ngay một tác phẩm điêu khắc lộng lẫy nhất từ thời
Maurya của Vua Asoka – Tượng Sư Tử, vốn nguyên
thủy được gắn trên đầu Trụ Đá Asoka ở Vườn Nai.
Bức
tượng bằng đá sa thạch được đánh bóng, cao 2.3m bao gồm 4 con
sư tử đang ngồi giáp lưng với nhau trên mặt đế lăng trụ
tṛn, dày khoảng 0.3m. Mặt ngoài lăng trụ có khắc 4 con
vật đang chạy, cách nhau bằng những bánh xe Pháp (Dhammacakka
wheel), đó là: con Ḅ, tượng trưng cho dấu hiệu Đức Phật đản sinh; con Voi tượng trưng cho ư
nghĩa Hoàng Hậu Maya Devi đă nằm mộng thấy có con voi chui vào
bụng của Hoàng hậu, con Ngựa tượng trưng cho cuộc từ bỏ
hay xuất gia của Bồ-tát (tức Thái Tử Siddhattha) khi
Người ra đi trên lưng ngựa Kanthaka; con Sư Tử
tượng trưng cho Bài Thuyết Pháp Đầu Tiên của Đức Phật
(hay Kinh
Chuyển Pháp Luân). Bốn con sư tử ngồi trên mặt đế
tṛn đó tượng trưng cho Giọng nói rền vang bốn phương của Đức
Phật (tiếng gầm Sư Tử hống).
Tượng
Sư Tử trên đầu Trụ Đá Asoka đó ngày nay trở thành Quốc
Huy của Ấn Độ và Bánh Xe Pháp (Dhammacakka)
trở thành
Quốc Hiệu trên lá cờ của Ấn
Độ.
(b)
Đại
Tượng
Bồ-tát
Tượng Bồ-tát lớn này được
làm bằng đá sa thạch màu đỏ, được cúng dường bởi Tỳ kheo
Bala đến từ Mathura vào năm
81 sau
CN, thuộc
triều đại
vua Kaniska
và đây
là tác
phẩm đại diện tốt nhất cho nền nghệ thuật
Mathura. Sau bức tượng là một trụ đá để làm thân nâng một
lộng che được điêu
khắc rất đẹp. Lộng che bằng đá này cũng được thấy ở ngay
sảnh chính của viện bảo tàng.
(c)
Những
Bảng Ghi
Chú Về
Cuộc Đời
Đức
Phật
Có một bảng điêu khắc mô tả
Bốn Sự Kiện Chính, quan trọng trong cuộc đời của Đức Phật,
đó là: Đản Sinh, Giác Ngộ, Khai Giảng Giáo Pháp và Đại
Bát-Niết-Bàn.
Một
bảng khác mô tả Tám Sự Kiện trong cuộc đời Đức Phật, đó
là: Bốn Sự Kiện Chính và Bốn Nơi Diễn Ra Điều Kỳ Diệu –
Đó là: Nơi Kỳ Diệu ở Sravasti (Savatthi, Xá-vệ), Nơi Đức
Phật Hạ Thế từ cơi trời Đao Lợi ở Sankasya, Nơi Đức
Phật hàng
phục Voi
Điên Nalagiri
ở Rajagaha
(Vương-xá) và Nơi bầy khỉ cúng dường mật ong cho Đức Phật ở
Vesali.
(d)
Tượng
Đức Phật
Đang Thuyết
Giảng
Tượng Đức Phật trong tư thế đang
ngồi thuyết giảng Chuyển Pháp Luân (Dhammacakka mudra) là
một trong những bức tượng điêu khắc đẹp nhất của nghệ thuật
Gupta.
Bức tượng điêu khắc nổi tiếng này
là một món quà cúng dường của Vua Kumaragupta, người trị
v́ từ năm 414-455 sau CN. Vầng hào quang trên đầu được khắc bằng
những thiết kế hoa văn
và 2 Thiên Thần ở 2 bên góc trên. Mặt đứng dưới
mặt đế
là 7
h́nh điêu
khắc. Bảy
h́nh này
tượng
trưng
cho 5 người khổ hạnh đang nghe thuyết giảng,
Hoàng hậu và người con trai của bà đang quỳ để đảnh lễ Bánh Xe
Pháp.
Một bức h́nh chụp tượng Phật đang
thuyết giảng này được
in làm trang b́a của quyển sách
“Kinh Pháp Cú” (The Dhammapada) của
Ngài K. Sri Dhammananda.
(10)
Hội
Đại Bồ-Đề
(Maha-bodhi
Society)
Công đức khôi phục lại Sarnath
trở thành một thánh địa sống là của Ngài Tỳ-kheo hộ pháp
Anagarika Dharmapala, người sáng lập ra Hội Đại Bồ-Đề Ấn
Độ. Ngài đă lập ra Hội Đại Bồ-Đề ở Sarnath, đặt văn pḥng ở bên
trái Tu Viện Mulagandhakuti Vihara, bên cạnh những trường
học của Hội Đại Bồ-Đề, trường cao đẳng, thư viện, trường đào tạo
Tăng, Ni.
Sau đó,
Hội Đại
Bồ-Đề cũng
xây một
bệnh viện để
chăm sóc những bệnh nhân nghèo xung quanh Sarnath.
(11)
Những
Chùa &
Tu Viện
ở
Sarnath
Có nhiều chùa và tu viện được xây
dựng trong vài thế kỷ
ở Sarnath, mà người hành hương cũng nên viếng thăm.
Đó là:
Chùa Miến Điện, Chùa Trung Hoa, Chùa Nhật Bản, Chùa Triều
Tiên, Chùa Thái Lan
và 3 Tu viện Tây
Tạng.
Tu Viện
Miến Điện được gọi tên là Dhammacakka Vihara (Tu Viện
Chuyển Pháp Luân) được thành lập bởi Ngài
Chandramani
đến từ
Kushinagar.
Hiện tại,
thầy
trụ
tŕ là Ḥa thượng U Wannadhaza, một Tu sĩ
Miến Điện, người đă ở Sarnath đă nhiều năm. Sau này, Chùa được
xây thêm một khu nhà khách để cho người hành hương ở lại khi
viếng thăm Sarnath.
(IV)
Kusinara, Nơi Đức Phật Từ Giă
Trần Gian
4.1
Cách
Để Đi
Đến
Nơi
Kusinara
hay Kushinagar nằm trong
ngôi làng Kasia thuộc huyện Deoria của bang Uttar
Pradesh. Đô thị gần nhất là Gorakhpur, cách 55km đường
bộ. Kushinagar cách 130 km về phía Nam của Lumbini, 250
km về phía Đông của Sravasti (savatthi, Xá-vệ) và cách 250 km về
phía Bắc của Patna. Tất cả những khoảng cách trên là ước
lượng gần
đúng.
Có
2 khách
sạn tốt
dành cho
những người
hành
hương.
4.2
Ư
Nghĩa Tôn
Giáo (4), (3),
(25)
Ba
tháng trước khi Đức Phật 80 tuổi, Đức Phật đă nói ư
nguyện muốn ngụ tại Đền Capala Shrine ở Vesali. Nhưng đến khi đi ngang qua Pava sau khi Người thọ thực bữa ăn
cuối cùng do một người thợ rèn tên là Cunda cúng
dường, Người đi đến nơi yên nghỉ
cuối cùng ở cánh Rừng Sala (Long Thọ) ở Mallas bên
bờ sông Hirannavati ở
Kushinagar.
Nơi
này, cũng đúng vào ngày Trăng Tṛn của Tháng Wesak, năm
543 trước CN, Đức Phật tịch diệt Đại Bát-Niết- Bàn
(Maha PariNibbana), không c̣n những yếu tố dính
chấp nào khởi sinh nữa, hoàn toàn giải thoát, không c̣n
tái sinh nữa.
Người cuối cùng Phật chuyển hóa
(độ) là tu sĩ Subhadda. Những lời cuối cuối cùng của Đức Phật nói với
những Tỳ kheo là:
“Handa
„dani bhikkhave amantayami vo: Vaya-dhamma sankhara. Appamadena
sampadetha.”
“Bây
giờ, này các Tỳ kheo, ta nói với các thầy: tất cả
mọi pháp hữu vi đều vô thường. Hăy
nỗ lực
(tu hành)
để đạt
mục tiêu
(giải thoát) của ḿnh”.
Đức Phật nằm giữa hai cây Sala
Long Thọ, nghiêng ḿnh về bên phải, đầu hướng về phía Bắc khi
Người trút hơi thở cuối cùng tại trần gian này.
Sau Đại Bát-Niết-Bàn của Người,
đến ngày thứ 7, thân
của Người được rước đi qua thành từ cổng phía Bắc ra cửa phía
Đông đến nơi đền thờ của người Malla tên là Đền
Makutabandhana. Khi họ bắt đầu đốt lửa giàn thiêu ngọc thân
Đức Phật, họ đă không thể nào đốt lửa trên giàn thiêu được cho
đến khi Ngài Đại Ca-diếp (Maha Kassapa) vào
đảnh lễ Đức Phật. Nghi lễ cuối cùng (đốt lửa thiêu) được
thực hiện bởi Ngài Ca-diếp.
Sau khi ngọc thân Phật đă được
thiêu cháy hết th́ c̣n lại những
phần xá
lợi. Những
xá lợi
của Đức
Phật đă
được
chia
làm 8 phần bằng nhau, bởi Bà-la-môn tên là
Dona, cho 8 bộ tộc thuộc miền Bắc Ấn Độ lúc đó là:
(1)
Vua Ajatasattu (A-xà-thế) của nước Magadha
(Ma-kiệt-đà),
(2)
Bộ tộc
Licchavi
của Vesali
(Tỳ-xá-ly),
(3)
Bộ tộc Sakya (Thích Ca) ở Kapilavatthu
(Ca-tỳ-la- vệ),
(4)
Bộ tộc
Bulias
của nước
Allakappa,
(5)
Bộ tộc
Koliyans
của nước
Ramagama,
(6)
Bà-la-môn
ở
Vethadipa,
(7)
Bộ tộ
người Malla
ở Pava,
và
(8)
Bộ tộc
người Malla
ở
Kushinagar.
Bà-la-môn Dona đích thân
giữ chia đều Xá Lợi, gồm có xá lợi xương, sọ, răng, và vải liệm
bên trong và bên ngoài. Khi
những người
bộ tộc
Moriya
của xứ Pipphalavana
đến th́ đă muộn, bởi v́ tất cả những Xá Lợi đều đă được
chia, v́ vậy họ chỉ lấy phần Tro.
Sau khi trở về quê hương, những
người được chia xá lợi
đă xây những bảo Tháp stupas để cất thờ Xá Lợi Phật.
Như vậy, vào thời đó có tất cả 8
Tháp thờ xá lợi Phật,
1 Tháp để đặt b́nh đựng hài cốt đă hỏa táng trước khi chia và 1
Tháp để thờ xá lợi tro.
Chúng
ta cần biết thêm
rằng, mấy
trăm năm
sau đó,
tất cả những xá lợi được phân đó đă được chia lại một lần
nữa bởi Vua
Asoka sau
khi nhà vua quyết
định xây
dựng tổng
cộng
84.000 đền
tháp stupas để tưởng
niệm những
thánh tích về Phật và Phật giáo.
Và về sau này, cũng có nhiều xá
lợi lại tiếp tục được chia và được đặt thờ trong những chùa tháp
ở khắp các nước Phật giáo ở Châu Á.
4.3
Bối Cảnh
Lịch Sử
(5),
(2), (7),
(35)
Vào
những ngày đó, Kushinagar đă được miêu tả bởi
Ngài Ananda là: “Một thị xă nhà vách đất này, thị xă ở
b́a rừng này, một huyện nhánh”.
Sau Đại Bát-Niết-Bàn của Đức
Phật, Kushinagar trở
thành một trung tâm tôn giáo vào thời Phật Giáo phát triển khắp
Ấn Độ. Là một trong bốn Thánh Địa quan trọng nhất (Tứ Động Tâm),
nơi này đă hấp dẫn nhiều Phật tử mộ đạo
đến từ khắp nơi ở Ấn Độ và trên thế giới đến viếng thăm.
Vua Asoka đă viếng thăm
Kushinagar vào năm 249
trước CN và đă xây dựng lên nhiều bảo tháp stupa và những
trụ đá tưởng niệm tại nơi này.
Nhưng vào thời ngài Huyền
Trang đến chiêm bái năm 637 sau CN, nơi này đă trở thành tàn
tích, thị xă làng mạc hoang vắng tiêu điều, chỉ c̣n răi rác vài
cư dân. Ngài cũng đă
đến và chiêm bái cây Sala Long Thọ, nơi Đức Phật đă từ giă cơi
trần (Bát-Niết-Bàn), thăm viếng ngôi Chùa có tượng
Phật nằm và bên cạnh chùa có một tháp stupa cao 61m do vua
Asoka dựng
nên, tháp
cũng đă
trong t́nh
trạng đổ
nát, và một Trụ Đá ở trước Chùa.
Đi dần về hướng Bắc, sau khi qua
sông Hirannavati là
một bảo Tháp stupa được xây lên để đánh dấu nơi hỏa thiêu
nhục thân Đức Phật.
Như vậy đó, Kushinagar đă tiếp
tục trở thành một thánh địa “sống” của Phật Giáo thời bấy giờ,
cho đến thế kỷ 12 sau CN, sau khi quân
Hồi giáo xâm lược và tàn phá Ấn Độ, Kushinagar lại rơi
vào hoang vắng và cuối cùng là trở thành tàn tích và ch́m vào
lăng quên hơn 600
năm.
Năm 1861-1862, Ngài Cunningham
đă đến tham quan khu tàn tích đổ nát ở Kasia và nhận
dạng được đây chính là
di tích nơi Đại Bát-Niết-Bàn của Đức Phật.
Đến năm 1876, trợ lư của ngài là
Carlleyle đă tiến hành một cuộc khai quật khảo cổ, đă làm
lộ ra toàn bộ Đền Chính và ngay trước nó là bức Tượng
Phật Nằm nổi tiếng bị chôn lấp trong đống đổ nát của khu di
tích. Nhiều cuộc khảo cổ khác được tiến hành cho đến năm 1912
cho thấy được nhiều công
tŕnh tưởng
niệm ở
Kushinagar đă tồn
tại đến
thế kỷ
12.
Vào thời cận hiện đại sau này,
Phật tử đầu tiên đến cư ngụ tại Kushinagar là Đại Đức
Mahavira, một người Ấn Độ nhưng được thọ giáo Tăng đoàn ở
Tích Lan, vào năm 1890. Ngài chịu trách nhiệm khôi phục lại
Kushinagar trở lại một Thánh địa đích thực là một nơi hành hương
Phật giáo thiêng liêng như ngày xưa. Ngài Mahavira đă tu sửa đền
chính và cho xây một
tu viện mới và một Giảng Pháp đường vào năm
1902-1903.
Sau
ngài Mahavira là Ngài
Tỳ kheo
Chandramani đến từ
huyện lỵ Akyab ở vùng Arakan, Miến Điện (Myanmar), người đă được
thọ giáo vào Tăng đoàn ở Chittagong, vào
năm 1903. Ngài đă nỗ lực hết ḿnh để hoàn thành sứ mạng
giống như người tiền nhiệm của ḿnh trong việc lấy lại
quyền quản lư và chăm nom Đền Đại Bát-Niết-Bàn (Mahaparinibbana Temple), đền
này c̣n
có tên
là Đền
Niết-Bàn (Nirvana Temple).
Ngài Tỳ kheo Chandramani
cũng đă thành lập được nhiều cơ sở giáo dục cho cư dân địa
phương và đă làm sống lại Nghi Lễ truyền thống Buddha Jayanti
(tức là Lễ Phật
Đản Vesak), được tổ chức lại lần đầu tiên ở Kushinagar vào năm
1924.
Ngài Đại Đức Chandramani qua đời
vào năm 1972 và người đệ tử của ngài là Đại Đức Gyaneshwar,
một Tỳ kheo từ Miến Điện tiếp tục sự nghiệp cao cả chăm nom khu
thánh
tích.
►
Ghi
chú:
Ở Ấn
Độ, Bangladesh và Nepal, Lễ Phật Đản (Vesak), c̣n được gọi là Visakah Puja (lễ hội Visakah), Buddha
Purnima hay Buddha Jayanti.
C̣n
Thái Lan gọi là Visakha Bucha; Indonesia gọi là Waisak;
Tây Tạng gọi là Saga Daw; Lào gọi là Vixakha Bouxa
và Myanmar (Miến Điện) gọi là Ka-sone-la-pyae (nghĩa là
Ngày Rằm Tháng Kasone, cũng là tháng thứ hai trong lịch Miến
Điện). (ND).
4.4
Những
Điểm Cần
Thăm Viếng
(2),
(7),
(35)
(1)
Đền Đại
Bát-Niết-Bàn
(Mahaparinibbana
Temple)
Ngôi Đền hiện tại đáng được viếng
thăm được xây bởi chính phủ Ấn Độ vào năm 1956 là một
phần của chương tŕnh
Tưởng Niệm
2.500 Đại
Bát-Niết-Bàn của Đức
Phật hay 2.500 Phật Lịch (BE/ Buddhist Era. (H́nh
27).
Ngôi
Đền cũ,
được phục
chế lại
bởi ngài
Carlleyle
(trợ lư của ngài Cunningham), th́ quá nhỏ, không đủ chỗ chứa
con số khách hành hương viếng thăm ngày một đông thêm.
Bên trong Đền, chúng ta có thể
nh́n thấy tượng Phật
nằm nghiêng về bên phải, đầu quay về hướng Bắc. Bức
tượng dài
6.1m được
đặt trên
một chiếc
giường bằng
đá
dài
7.3m. Trong chỗ tượng Phật nằm có
ba bức tượng điêu khắc nhỏ, bức tượng đứng gần dưới chân Phật
được tin là mô tả ngài Ananda đang khóc u sầu v́ biết
rằng Đức Thế Tôn sắp đi xa. Tượng ở chính giữa là ngài
Subhadda, người đệ tử
cuối cùng được Đức Phật giảng độ. Tượng một người tóc dài
đứng gần mặt Phật được tin là một người đứng đầu bộ tộc Malla
đang đứng lễ viếng Đức Phật.
Ở
chính giữa
là một
bảng chữ
khắc thuộc
thế kỷ thứ 6 sau CN, ghi rơ
bức tượng này là “một món quà của Tỳ kheo Haribala tặng
cho Đại Tu Viện Mahavira” và “tượng được tạo dáng
bởi Dinma”. Bức tượng Phật nằm 1.500 tuổi được chế tác
từ một tảng đá sa thạch màu đỏ được vận chuyển đến từ Mathura
trong thời đại Gupta. Chính Ngài Carlleyle đă
phát hiện
vào năm
1876 trong
t́nh trạng
sứt găy
và đă
được nối
ráp lại
một cách
thành công
cùng với
những mănh
vỡ được t́m thấy rải rác xung
quanh.
Bức tượng mang 32 dấu tướng
tốt của một Vĩ Nhân (Mahapurisa: bậc Đại Trượng Phu)
và có thể làm khởi sinh trong chúng ta những cảm giác khác nhau
trong tâm, tùy thuộc vào vị trí đứng ngắm nh́n của chúng ta:
(a)
Nếu đứng trước khuôn mặt, người xem có thể
cảm nhận ngay nét mỉm cười nhẹ nhàng trên khuôn mặt. (H́nh
29).
(b)
Nếu đứng gần giữa thân, người xem có thể
cảm nhận được sự khổ trên khuôn mặt.
(c)
Nếu đứng dưới phần chân, người xem có thể
cảm nhận được sự trầm mặc và tĩnh lặng trên khuôn
mặt.
(2)
Tháp Đại Bát-Niết-Bàn
(Mahaparinibbana
hay
Nirvana Stupa)
Tháp
Đại Bát-Niết-Bàn
(Mahaparinibbana stupa) nằm bên cạnh Đền Đại Bát-Niết-Bàn
(Mahaparinibbana
Temple). Tháp này cũng được khôi phục từ Tháp Chính được
phát hiện ra trong quá tŕnh khảo cổ của ngài Carlleyle vào năm
1876. (H́nh 28).
Khi khảo sát ở độ sâu 4.3m, lộ ra
một bia bằng đồng và những cổ vật khác của niên đại Gupta. Chữ
khắc trên bảng đồng đó là chữ Phạn nói rằng những cổ vật đă được
đặt vào trong Tháp Niết-Bàn
(Nirvana
stupa) bởi
Tỳ kheo
Haribala.
Ngài Huyền Trang, người đến
đây chiêm bái vào năm
637 sau
CN, ghi lại
rằng Tháp Niết-Bàn
là do Vua Asoka
xây dựng nên. Ngài cũng chứng kiến được bên trước Tháp là một
trụ đá có ghi lại về sự Bát-Niết-Bàn của Như Lai, nhưng
nó không ghi rơ ngày tháng.
Tháp
Niết-Bàn này
được tin
là lần
đầu tiên
được dựng lên
bởi người Malla để thờ xá lợi Phật và sau đó được mở rộng (nhiều
lần) bởi Vua Asoka và những người đời sau nữa trong thời
đại Gupta.
Có vẻ
như là Tháp Niết-Bàn đă được xây dựng lên rất
lâu đúng nơi Phật Bát-Niết-Bàn để thờ xá lợi Phật
trước khi bức tượng được đặt vào Bát-Niết-Bàn, mặc dù có một giả
thuyết khác cho rằng vị trí đặt Tượng Phật Nằm trong
Đền Đại Bát-Niết-Bàn mới chính là chỗ Đức Phật Niết-Bàn.
Tháp Đại Bát-Niết-Bàn
(Mahaparinibbana stupa), cao 27m, đă được trùng tu lại
năm 1927 bằng tiền cúng dường từ một thí chủ người Miến Điện tên
là U Po Kyo.
(3)
Đền
Thờ Matha
Kuar –
Nguồn Gốc
& Ư
Nghĩa
Trong
lần xuất bản trước, tác giả đă tŕnh bày nơi này là nơi Đức Phật
đă nghỉ chân và Đức Phật đă bảo ngài Ananda đi lấy nước ở một
con suối gần đó. Điều này đă là một sự nhầm lẫn và xin được
đính chính lại. (Sự kiện đó diễn ra ở Pava, xem Phần III,
2, Pava).
Theo
Ḥa thượng Pimbure Samitha Thero ở chùa Nhật Bản–Tích
Lan (Japan-Sri Lanka Buddhist
Temple) ở
Kushinagar, Đức Phật đă mệt và dừng lại nghỉ
chân lần thứ 25 ở Đền
Matha Kuar ngay trước khi Người tiếp bước đến Rừng Sala
Upavattana và nhập diệt Đại Bát-Niết-Bàn. Ngay tại nơi
nghỉ chân được gọi là
Matha Kuar này, Đức Phật
vẫn tiếp tục thuyết Pháp cho những vị đệ tử. Phật
cũng đă nói rằng Phật
cũng là một con người b́nh thường, cũng
không tránh khỏi già bệnh chết, nhằm nâng cao ḷng
thúc giục tâm linh
của các vị đệ
tử, để họ càng thêm
mau tinh tiến
tu tập. Nhưng Đức Phật cũng nói rằng Người đă chứng đạt được tri
kiến và trí tuệ tối thượng vượt xa tất cả chúng sinh trên thế
gian này.
Nơi
này được
gọi là
Matha Kuar
và một
ngôi đền
thờ đă được xây lên
và có
đặt một
tượng Phật
ngồi kiết
già, trong tư thế
địa xúc
ấn (bhumiphassa
mudra),
được làm bằng đá xanh
lấy từ vùng Gaya, cao khoảng 3.05 mét,
khoảng hơn 1.000 năm tuổi. Ngôi tháp mái, trước đây được
xây để che tượng Phật, nay đă là một phần của mái che h́nh vuông
của một đền tháp như căn nhà vuông.
Theo bia khắc ghi lại, đền tháp
này được xây vào thế kỷ 10 vào thời của thủ lĩnh Kalachuri ở
vùng này. Năm 1927 Đại
Đức U Chandramani đă xây dựng lại ngôi tháp bằng tiền cúng dường
của hai thí chủ từ Miến Điện, là U Po Kyo và U Po
Hlaing. Nơi này cách 0.4 km về phía Tây Nam của Tháp Đại
Bát-Niết-Bàn. (H́nh 31).
Về ư nghĩa của cái tên “Matha
Kuar” (theo tiếng người Buchanan là Matakumar), ngài Sir
Cunningham có lẽ đă
đúng khi
dịch ra
tiếng Anh
là “Dead
Prince”, có
nghĩa
là
„Hoàng Tử Mất‟ khi nói
về tên của bức
tượng
Phật.
H.B.W.
Garrick, trợ
lư của
ngài Sir
Cunningham,
cũng đă đến nơi này vào năm 1880-1881 đă ghi lại như sau:
“Bức
tượng này được đặt lại bởi chính quyền địa phương ở vị trí cách
Đền Chính (tức Đền Đại Bát-Niết-Bàn) 400 yards. Và được người
dân trong làng gọi là „Matha Kuar‟. Bây giờ, có rất nhiều người
thuộc những giáo phái Hindu đến đây
cúng bái,
họ mang
cúng bơ
sữa trâu
lỏng và
trầu mà họ bôi lên mặt tượng và rưới nước lên thân tượng.
Thỉnh thoảng cũng có người cúng ṿng hoa”.
Lúc nhà khảo cổ Carlleyle khai
quật được th́ pho tượng
đă bị găy đôi, nhưng sau đó người ta cho ráp tượng lại và
đem về thờ tại Tháp Matha-Kuar do Phật tử thí chủ Miến
Điện U Po Kyo và U Po Hlaing tài trợ xây vào năm
1927, như đă nói trên.
(4)
Tháp Hỏa
Táng
Stupa
(Makutabandhana
Cetiya)
Sau khi lễ lạy nhục thân Đức Phật
6 ngày, những người bộ
tộc Malla đă khiêng xác đến Makuta-bandhana, nơi thường
được dùng để tổ chức tôn vinh những vị thủ lĩnh và làm lễ hỏa
táng.
Lễ
hỏa thiêu
nhục thân
Đức Phật
được miêu
tả trong phần
VI của Kinh Đại Bát-Niết-Bàn (Mahaparinibbana
Sutta), cũng mô tả việc phân chia Xá Lợi phật bởi Bà-la-
môn Dona.
Tháp
Hỏa Thiêu
stupa
được
dựng lên
bởi người
Malla
sau
khi hỏa
táng xong
nhục thân
Đức Phật.
Tháp này
đă
được tu sửa lại vào thế kỷ thứ 3 trước CN bởi
Vua Asoka và vào thế kỷ thứ 5
bởi triều đại Vua Kumaragupta.
Khi
ngài Sir
Cunningham
viếng thăm
di tích
này vào năm
1861-1862, đó chỉ là một khối (g̣) đất vun cao. Tháp được chôn
kín bên dưới một g̣ đất cao sau này được lộ ra h́nh trụ với
đường kính 34m, được đặt trên một bệ móng có đường kính 47m.
Những cuộc khai quật
đă phát hiện được rất
nhiều con dấu (ấn) bằng đất sét có khắc những
bài kinh kệ
Phật giáo xác nhận rằng chỗ này chính là chỗ giàn hỏa
thiêu.
Nơi
đây cách
khoảng 1.6
km về
phía Đông
của Đền
Thờ
„Matha
Kuwara‟ nằm
dọc theo đường
đi. (H́nh
30).
(5)
Tháp Tưởng Niệm Đại Đức Mahavira,
người khai lập ở Kushinagar
Có lẽ Đại Đức Mahavira
là người Hindu giáo đầu tiên ở Ấn Độ trở thành một tu sĩ Phật giáo. Trước đó, ngài là một
vơ sĩ đô vật, và trong chuyến đi đến Tích Lan, ngài đă được hấp
dẫn bởi đạo Phật và ngài đă gia nhập Tăng Đoàn trở
thành Tỳ kheo vào năm 1890.
Năm 1891, ngài quay trở lại Ấn Độ
và ở lại Kushinagar, lúc
đó hoang
tàn sau
những cuộc
khai quật
của năm
1876 bởi ông Carlleyle. Ngài đă tu sửa lại Tháp Đại
Bát-Niết-Bàn, vốn đă bị bỏ hoang, trở thành một thánh địa
hành hương Phật
giáo, đă
thu hút
rất nhiều
những nhà
hành hương
hồi đó, đặc biệt là những Phật tử Miến Điện. Cùng với tài
trợ từ những Phật
tử Miến
Điện, ngài
đă mua
một khu
đất ở
gần Đền Đại Bát-Niết-Bàn để xây
nhà khách cho những người hành hương vào năm 1902 và xây thêm
một tu viện vào năm 1903. Đó là một tu viện vihara được
xây đầu tiên trong thời cận hiện đại ở Ấn Độ.
Ngài Mahavira viên tịch nhằm vào
tháng ba năm 1919 và tro hài cốt của ngài được chôn trong một
bảo Tháp nhỏ bằng gạch nằm bên góc khu đất phía sau Đền Đại
Bát-Niết-Bàn.
(6)
Đền Thờ Tưởng Niệm “Sự Kiện Chuyển
Hóa Qua Đạo Phật” được thực hiện bởi Tiến sĩ Ambedkar
và Ḥa thượng Sayadaw U Chandramani
Sự kiện
đáng nhớ nhất của Phật Giáo thế giới trong thời hiện đại là việc
chuyển hóa 380.000 Dalits (những người bị cho là giai
cấp hạ tiện trong xă hội Ấn Độ) qua đạo Phật dưới sự
dẫn dắt và
tổ chức của
Tiến Sĩ
Babasaheb Ambedkar.
Sự kiện
lịch sử này diễn ra vào ngày 14 Tháng 10, Năm 1956 tại
khu đất rộng 14 mẫu được gọi là Khu “Diksha Bhumi” ở
Nagpur, bang Maharashtra.
►
(Xem
thêm Phần
IV, 7.,
8.,
9.).
Người
được chọn làm vị tăng hướng dẫn về Pháp (Dhamma Guru) và
làm chứng minh ở Đại Lễ Quy Y nôi tiếng này là Ḥa thượng
Sayadaw U Chandramani của
Kushinagar.
Sự kiện
chuyển đạo ở Nagpur là một cuộc chuyển đạo lớn
nhất và ḥa
b́nh nhất
trong lịch
sử nhân loại bởi v́ số đông người cùng tự nguyện chuyển đạo cùng một lúc,
dưới sự d́u dắt của một người và một vị ḥa thượng.
Để tưởng nhớ sự kiện lịch sử này,
một ngôi Đền Thờ đă được xây ngay tại Chùa Miến Điện
Kushinagar (Kushinagar Burmese Temple) nơi Ḥa thượng
Sayadaw U Chandramani
làm trụ
tŕ. Bên
trong ngôi
Đền Thờ,
chúng ta có thể thấy một bức tượng Tiến sĩ Ambedkar được
đặt ở trước tượng của Ḥa thượng Sayadaw U Chandramani, để diễn
tả sự tiên phong của người Phật tử cư sĩ đáng ghi nhớ
này.
Hai
tháng sau Đại Lễ Quy Y đó, Tiến sĩ Ambedkar qua đời ở New
Delhi vào ngày 6 Tháng 12 Năm 1956 ở tuổi 65.
Ḥa thượng Sayadaw U
Chandramani vẫn tiếp tục sự nghiệp khôi phục Phật Pháp
(Buddha Sasana) ở Ấn Độ và Nepal. Ḥa thượng cũng viên tịch tại
Chùa Miến Điện Kushinagar
nói trên vào
Ngày 8,
Tháng 5
Năm 1972
ở
tuổi
97.
Ngài đă sống
80 năm
như một
Tỳ kheo Miến
Điện tại Ấn
Độ.
(7)
Những
Chùa &
Tu Viện
Phật Giáo
ở
Kushinagar
Về sau cuối này, có nhiều những
công tŕnh được phát triển
ở Kushinagar, một số
tu viện,
chùa và
những cơ
sở tiện nghi để phục vụ khách hành hương.
Trong khi thăm viếng Kushinagar,
những người hành hương nên đến thăm các chùa và tu viện đó là:
Chùa
Trung Hoa, Chùa Phật Giáo Nhật Bản-Sri Lanka, Tu Viện Miến Điện, Tu
Viện Tây Tạng để tỏ ḷng thành kính đối với những Tăng, Ni cũng
như nhờ những Tăng Ni giúp
đỡ trong việc t́m hiểu thêm về những thánh tích ở khu thánh địa này.
Trang Sử
Liệu