Intensive Courses - Questions and Answers
Bài 1:
Tổng Quan về Thế Giới - Sự thiết yếu của đời sống chánh niệm
Bài 2:
Khuynh hướng chúng sanh - Sở hành tạo ra sanh thú tương ứng
Bài 3:
Duyên – Duyên trợ sanh – Duyên trợ lực – Cảnh duyên
Duyên trợ sanh – Duyên trợ lực
Nhân duyên
Cảnh duyên
Thường cận y duyên
Bài 4:
Thiền duyên – Quả Duyên
Bài 5:
Dưỡng tố duyên – Quyền duyên
Bài 6:
Đạo Duyên – Vô Gián Duyên
Bài 7:
Trưởng Duyên
Dàn bài
BÀI 1: TỔNG QUAN VỀ THẾ GIỚI
CÂU 1:
Cấu trúc tâm pháp là gì?
Cấu
trúc 1
1 bare knowing (tâm đơn thuần)
+13 neutral factors (tâm sở trung hoà)
+14 negative factors (tâm sở bất thiện) = Unwholesome
(Tâm Bất thiện)
Cấu
trúc 2
1 bare knowing (tâm đơn thuần)
+13 neutral factors (tâm sở trung hoà)
+25 positive factors ( tâm sở thiện) =wholesome (Tâm
thiện)
Gọn
lại là
1+13+14=unwholesome
1+13+25=wholesome
CÂU 1a:
Bình thường chúng ta sống nhiều trong cấu trúc nào?
1 + 13 + 14
CÂU 2: Ác
phổ thông là gì?
Ác phổ thông
gồm có 10:
Thân tam (sát sanh, trộm cắp, tà dâm)
Khẩu tứ (nói 2 lưỡi, nói ác, nói dối, nói thêu dệt)
Ý tam (tham độc, sân hận, tà kiến)
CÂU 3: Lý
do tại sao ta phải tu tập chánh niệm (vipassanā)?
Lý do tu tập
chánh niệm là để ta sống với cấu trúc 2 ( 1+13+25)
Nếu cấu trúc 1 xuất hiện thì kịp thời thấy được. Tâm thấy được cấu trúc
1 chính là tâm thiện.
CÂU 3a:
Nếu nói như vậy thì chánh niệm có cần thiết trong đời sống tu hành trong
mỗi phút giây, trong mỗi sát na hay không?
Rất cần
thiết. Là một điều không thể thiếu trong đời sống của người tại gia lẫn
xuất gia.
CÂU 4:
Xin nói lên sự tương quan giữa 10 pháp ba la mật và 37 phẩm trợ đạo của
hành giả tu tập tứ niệm xứ?
Khi tu tập
để vun bồi trí tuệ giác ngộ thì 37 phẩm trợ đạo nằm gọn trong 10 Ba la
mật.
Khi Ba là mật chín muồi thì 10 Ba la mật thành 37 phẩm trợ đạo.
CÂU 4a:
10 Ba la mật gồm những gì?
The Ten Perfections
Generosity (dāna) - bố thí
Moral conduct (sīla) - trì giới
Renunciation (nekkhamma) - ly dục (xuất gia)
Wisdom (paññā) - trí tuệ
Energy (viriya) - tinh tấn
Patience (khantī) - nhẫn nại
Truthfulness (sacca) - chân thật
Determination (adhitthāna) - chí nguyện
Loving-kindness (mettā) - từ ái
Equanimity (upekkhā) - hành xả
CÂU 5:
Tất cả chúng sanh và vũ trụ chỉ gom gọn trong vài chữ mà thôi. Xin hỏi
là mấy chữ và là chữ gì?
Danh và sắc
CÂU 5a:
Có cách nói khác không?
1. Duyên
4. Tứ Đế
5. Ngũ uẩn
12. 12 xứ (6 căn+ 6 trần)
18. 18 giới (6 căn + 6 trần + 6 thức)
CÂU 6:
Trong cấu trúc 1 và 2. Bare knowing và neutral factors có đủ để tạo ra
wholesome và unwholesome mind chưa, tại sao?
Chưa vì nó
thiếu các yếu tố thiện và ác. Phải có 14 hay 25 thì mới trở thành tâm
thiện hay tâm bất thiện.
CÂU 7:
Chữ Thiện trong đạo Phật có nên hiểu cùng nghĩa với chữ Thiện trong các
Đạo Khổng, Lão giáo hay không? Xin giải thích
Chữ thiện
trong đạo phật là Thiện xảo, là technical term. Chữ Thiện trong đạo phật
thuần tuý nhân quả, không liên quan tới đạo đức như các đạo khác. Nhưng
vô hình chung khi người làm việc thiện thì cũng có đạo đức luôn nên việc
hiểu lầm chữ Thiện trong đạo Phật từ đó nảy sinh.
CÂU 8:
Thập thiện và 10 ba la mật khác nhau chỗ nào ? Tu thập thiện và tu ba la
mật đưa đến cứu cánh gì?
Thập thiện
cho quả vui và tái sanh ở những cõi lành nhưng vẫn còn trong tam giới,
còn trong vòng sanh tử luân hồi. Các pháp Ba la mật không bị nương nhờ
bởi tham ái, ngã mạn, tà kiến, đồng thời hợp với tâm bi và trí tuệ có
cứu cánh Niết Bàn cao thượng.
CÂU 9:
Nói là 10 ba la mật mà tại sao có bài kinh tam thập độ (30 ba la mật)?
Xin giải thích.
Ba la mật có 3 bậc (hạ,trung,thượng) 10 x 3 = 30
Bậc hạ: thinh văn giác
Bậc trung: độc giác
Bậc thượng : chánh đẳng giác
CÂU 10:
37 phẩm trợ đạo còn có tên gọi khác là gì. Và 10 ba la mật còn có tên
gọi khác là gì?
37 phẩm trợ đạo còn gọi là 37 phẩm bồ đề.
10 pháp ba la mật còn có tên là 10 pāramī hay Đáo bỉ ngạn
hay Qua đến bờ kia
BÀI 2: PHÁP MÔN VÀ KHUYNH HƯỚNG CHÚNG
SANH
CÂU 11:
Con số 14 và 25 của mỗi chúng sanh có giống nhau không? Thí dụ minh họa?
Đương nhiên
là không giống nhau rồi.Vì mỗi chúng sanh có cái nghiệp riêng. Bằng
chứng là tuy rằng ai cũng có mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý, nhưng mà có
ai giống ai đâu. Suy nghĩ cũng có ai giống ai đâu.
CÂU 12:
Tuỳ thuộc vào điều kiện gì mà chúng sanh có sự khác biệt giữa 2 con số
14 và 25?
14 và 25
mỗi người khác nhau tùy thuộc vào 3 điều kiện:
- tiền nghiệp
- khuynh hướng tâm lý
- môi trường sống
CÂU 13:
Đức Thế Tôn đã dựa vào điều gì để có những pháp thoại cho mỗi cá nhân?
Đức Thế Tôn
dựa vào căn tánh của mỗi cá nhân. Đức Thế Tôn dựa vào sự khác biệt giữa
con số 14 và 25 của mỗi chúng sanh.
CÂU 13a:
Chúng sanh có mấy loại căn tánh?
Chúng sanh
có 6 loại căn tánh:
1. Dục tánh (Tham)
2. Nộ tánh (Sân)
3. Độn tánh (Si)
4. Đãng tánh (Tầm)
5. Mộ tánh (Tín)
6. Ngộ tánh (Giác)
CÂU
14:Vậy thì 3 yếu tố tiền nghiệp, khuynh hướng tâm lý, môi trường
sống có liên quan và ảnh hưởng đến nhau không ?
Có. Ba yếu
tố này trong quá khứ là nhân đưa đến 3 yếu tố trong hiện tại. Và 3 yếu
tố này trong tương lai chính là quả của 3 yếu tố này trong hiện tại.
Nhân quả cứ thế nối tiếp với nhau mãi hoài không dứt.
CÂU 15:
Trong 3 yếu tố này , yếu tố nào quan trọng nhất để chúng ta cần phải lưu
ý?
Cả ba yếu tố
đều quan trọng như nhau. Vì 2 yếu tố sau sẽ tạo nên yếu tố thứ nhất cho
kiếp sau. Yếu tố thứ nhất hỗ trợ cho 2 yếu tố sau.
CÂU HỎI BÊN
LỀ:
A. 10 Thiện
Nghiệp là gì?
Thập thiện:
10 thiện nghiệp là:
1. Không sát sanh
2. Không trộm cắp
3. Không tà dâm
4. Không nói dối
5. Không nói ly gián
6. Không nói độc ác
7. Không nói phù phiếm
8. Không tham độc
9. Không sân hận
10. Có chánh kiến
B. 10 Phước
Nghiệp Sự là gì?
Thập Phước
Nghiệp Sự là: (Puññakiriyā - Vatthus)
1. Bố thí (Dāna)
2. Trì giới (Sīla)
3. Tu thiền (Bhāvanā)
4. Cung kính (Apacāyana)
5. Phục vụ (Veyyāvacca)
6. Hồi hướng công đức (Pattidāna)
7. Tuỳ hỷ công đức (Pattānumodanā)
8. Thính pháp (Dhammassavana)
9. Thuyết pháp (Dhammadesanā)
10. Tri kiến chân chánh (Diṭṭhịukamma)
B1. 10 Phước
Nghiệp Sự được chia thành mấy nhóm?
10 Phước
Nghiệp Sự được chia thành 3 nhóm:
Phước vật :
- Bố Thí
- Phục vụ
Phước Đức :
- Trì giới
- cung kính
- Tuỳ hỷ
-Hồi hướng
Phước trí :
- Tu tiến
- Thính pháp
- Thuyết pháp
- Cải chánh tri kiến
C. 10 Ba La
Mật là gì? - (ôn lại của bài 1)
Mười pháp Ba
La Mật là: Bố Thí (Dāna), Trì Giới (Sīla), Ly dục (Xuất Gia)
(Nekkhamma), Trí Tuệ (Pannā), Tinh Tấn (Viriya), Nhẫn Nại (Khanti), Chân
Thật (Sacca), Quyết Ðịnh (Adhitthāna), Tâm Từ (Mettā), Tâm Xả (Upekkhā).
D. Khi nói
về 10 thiện nghiệp, 10 Phước nghiệp sự và 10 Ba la mật. Xin nói ra mục
đích sự tu tập của từng nhóm? Có phải tất cả 3 nhóm đều đưa đến đạo quả
giải thoát hay không?
10 thiện nghiệp ngăn ngừa thân khẩu ý rơi vào ác pháp
10 phước nghiệp để thân khẩu ý làm thiện
10 ba la mật để loại trừ phiền não và vun bồi cho trí tuệ
giác ngộ.
Nếu nhìn lại
sẽ thấy 10 thiện nằm gọn trong phần Trì Giới của 10 Ba La Mật.
10 Phước
Nghiệp có:
Phước vật nằm trong phần Bố Thí
Phước Đức nằm trong phần Trì Giới
Phước Trí nằm trong phần Trí tuệ
của 10 pháp Ba La Mật.
Tu nhân vô tham qua hạnh Xả thí là tu về Phước Vật.
Tu nhân vô sân qua Trì giới, Rải tâm từ là tu về Phước
Đức.
Tu nhân vô si qua hành thiền, tu chánh niệm, tĩnh giác là
Phước Trí.
Nói tóm lại
nếu những tâm thiện xuất hiện thì nó sẽ nằm gọn trong con số 25. Và tuỳ
theo căn tánh của chúng sanh mà Đức Phật thuyết pháp. Cho nên 10 thiện
nghiệp, 10 Phước nghiệp và 10 ba la mật là đi từ căn bản đến rốt ráo. Và
khi ba la mật chín muồi sẽ trở thành 37 phẩm trợ đạo đưa đến cứu cánh
giải thoát, chứng ngộ Níp Bàn.
E. Khi mình
bố thí ,trì giới...thì làm sao phân biệt được đó là Phước nghiệp hay Ba
la mật?
Khác nhau ở
chỗ là hành thiện với mục đích gì mà thôi: giải thoát hay là hưởng quả
phước nhân thiên.
Giải thoát thì có thêm yếu tố tâm lý: thi ân bất cầu báo hoặc chỉ nghĩ
đến việc đến việc vun bồi ba la mật để tiến tu.
BÀI 3: TRÁCH NHIỆM VÀ LÝ DO TU HỌC CỦA
NGƯỜI PHẬT TỬ
CÂU 16:
Kinh điển trong Phật Giáo có phân chia theo hệ thống hay không? Xin giải
thích tóm lược.
Tam tạng
kinh điển của Phật giáo có tổng cộng 84,000 pháp uẩn.
-Tạng Kinh :
có 21,000 pháp uẩn, nói lên lời giáo huấn của Đức Phật. Tạng Kinh do
Ngài Anan kết tập lại từ những bài giảng do chính Đức Phật Thích Ca
thuyết.
-Tạng Luật :
có 21,000 pháp uẩn, là giới luật do Đức Phật đặt ra. Tạng Luật do ông Ưu
Bà Ly (Upali) kết tập những giới luật do Đức Phật Thích Ca chế đặt ra,
làm khuôn phép cho sinh hoạt tu học của hàng xuất gia.
Tạng Luật
gồm năm quyển:
Vibhanga:
1) Parajika
Pali (Tội nặng)
2) Pacittiya
Pali (Tội nhẹ)
Khandaka:
3) Mahavagga
Pali (Phần lớn)
4)
Cullavagga Pali (Phần nhỏ)
5) Parivara
Pali (Giới toát yếu)
-Tạng Luận :
có 42,000 pháp uẩn, là tạng Vi Diệu Pháp.
Luận tạng,
theo truyền thuyết thì do Ngài Ca Diếp (Kassyapa) kết tập cũng từ những
bài giảng của Phật Thích Ca, trong lần kết tập thứ nhất (8 tháng sau khi
Đức Phật nhập Níp Bàn), chuyên nói các vấn đề triết học và tâm lý học
của Phật giáo.
Về sau,
nhiều nhà Phật học cho rằng, trong lần kết tập thứ nhất, chỉ kết tập
luật tạng và kinh tạng. Còn luận tạng thì khoảng 200 năm sau khi Đức
Phật nhập Níp Bàn mới xuất hiện.
Tạng Kinh ví
như hoa.
Tạng Luật ví
như rễ cây.
Tạng Luận ví
như lõi cây.
CÂU 17:
Là một phật tử, xin cho biết chúng ta có cần thiết học giáo lý không ạ?
Và học giáo lý để làm gì?
Version 1:
Là phật tử thì rất cần học giáo lý (Pháp) để biết:
-cách giải
quyết vấn đề,
-quyết định
hợp lý,
-ý thức được
điều cần làm,
-và quan
trọng nhất là tìm được lối ra (không rơi vào bế tắc).
Version 2:
Là một Phật tử cần thiết phải học giáo lý vì chúng ta đi theo Phật thì
phải biết đúng những gì Phật dạy từ đó mới có thể tìm ra lời đáp cho 4
câu hỏi:
Tôi là ai?
Vốn là gì và
được cấu tạo ra sao?
Tôi từ đâu
đến?
Tôi sẽ về
đâu và ngay bây giờ tôi phải làm gì?
Để không còn
bị mê lầm và đau khổ.
“Tôi là
ai?”... tôi là hiện thân của đau khổ “Tôi Được cấu tạo ra sao?” Tôi được
cấu tạo bởi những mê lầm.
“Tôi từ đâu đến?” Tôi đến từ đâu không quan trọng nếu nó không giải
quyết được đau khổ trước mắt của tôi.
“Tôi sẽ về đâu?” Tôi sẽ về một nơi đau khổ mới nếu tôi không chủ động
thực hiện những gì cần làm, “ Ngay bây giờ tôi phải làm gì?” ngay bây
giờ tôi phải ý thức và chọn lựa là mình sẽ đi trên con đường nào để
thoát ra khỏi khổ đau và mê lầm.
CÂU 18:
Như vậy quan niệm không cần học giáo lý gì cả mà chỉ cần trực chỉ pháp
hành có phải là chánh tri kiến hay không?
Tu mà ko học
là tu mù.
Ngay cả muốn
trực chỉ pháp hành cũng phải học cách hành, nếu không thì làm sao biết
cách mà hành. Mà học pháp hành thì là giáo lý của Đức Phật rồi. Như vậy
pháp học và pháp hành không thể tánh rời nhau.
CÂU 19:
Có phải tất cả mọi người khi học giáo lý của Phật đều nhắm đến mục đích
giải thoát hay không?
Dạ không. Vì
có người học để nghiên cứu hoặc là để thành cư sĩ đa văn. Có người học
Phật như một triết lý sống, một trường phái tư duy. Cũng có nhiều ngoại
đạo học Phật để bắt chước và đưa vào đạo của họ. Có người học Phật danh
vì lợi nữa. Không phải ai học giáo lý của Phật cũng để tầm cầu đạo giải
thoát.
CÂU 20:
Người cư sĩ muốn học đạo có cần phải biết hết 84,000 pháp uẩn hay không?
Người học
đạo không nhất thiết phải thuộc lòng cả tam tạng, mà chỉ cần học một số
kinh căn bản mà thôi.
Như đã là cư sĩ thì không cần phải học tạng Luật.
CÂU 21:
Những kinh sách quan trọng trong tạng Kinh và tạng Luận mà người tu đạo
cần phải học qua là gì?
BÀI 4: MỤC ĐÍCH TU HỌC CỦA NGƯỜI PHẬT TỬ
Mục đích của
sự tu học là giải thoát.
Lý do của sự
học là có kiến thức.
Lý do của sự
hành là có kinh nghiệm và phát sanh trí tuệ.
Lý do của
hoằng đạo là để chia sẽ kinh nghiệm cho người sau và cũng để tạo ba la
mật.
Nhưng mục
đích cuối cùng của tất cả lý do này là hướng tới giải thoát.
CÂU 24:
Người Phật tử chỉ cần học đạo và hành đạo là đủ phải không ?
Dạ không,
người Phật tử không phải chỉ cần học đạo và hành đạo mà còn có bổn phận
phải hoằng đạo nữa.
CÂU 25:
Vậy người phật tử hoằng đạo bằng cách nào? (Phật tử là bao gồm cả tu sĩ
lẫn cư sĩ)
Hoằng đạo có
nhiều cách:
Tu học ngon
lành để làm gương cho kẻ khác cũng là hoằng đạo.
Không từ
chối những cơ hội thuyết pháp cũng là hoằng đạo
Biên soạn
viết lách các công trình Phật Pháp cũng là hoằng đạo
Ấn tống kinh
sách cũng là hoằng
đạo.
BÀI 5: HỌC GÌ?
Câu 26:
Nếu như không có thời gian, người Phật tử nên học những gì?
Câu 27:
nếu như có nhiều thời gian thì người Phật tử nên học những gì?
Câu 28:
Bất cứ một vị Giảng sư hay Thiền sư nào được xem là chính thống thì cũng
phải ĐỌC KỸ những bộ sách nào?
Câu 28a:
ĐỌC KỸ ở đây có nghĩa là sao?
ĐỌC KỸ ở đây
có nghĩa là:
- Đọc thẳng
vào nguyên bản Pali
- Có thể
giải thích rộng rãi cho người khác với những tham khảo cần thiết
(Next)
Nguồn: Intensive course